Tranh chấp trong hoạt động kinh doanh
Đăng ngày 27-06-2017 11:13

Về vướng mắc của doanh nghiệp khi có tranh chấp trong hoạt động kinh doanh (Kiến nghị của Chi nhánh Văn phòng Luật sư Phạm và Liên Danh TP. Đà Nẵng; Địa chỉ: 147 Trưng Nữ Vương; Người đại diện: Anh Phạm Văn Thanh):
 

Đơn vị xử lý: Tòa án nhân dân thành phố, Công an thành phố chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan.

Sở Kế hoạch và Đầu tư trả lời:

(a) Khi doanh nghiệp ký hợp đồng với một cá nhân hoặc một doanh nghiệp để làm đại lý tiêu thụ hàng hóa nhưng nhiều trường hợp trong hợp đồng không ràng buộc quyền và nghĩa vụ cụ thể nên nhiều trường hợp người nhận đại lý đó chậm thanh toán hoặc không thanh toán mà dùng số tiền đó để xoay vòng vốn kinh doanh tạo lợi nhuận cho mình, cá biệt dùng số tiền đó phục vụ cho cá nhân và bỏ trốn. Sau khi vụ việc xảy ra thì có doanh nghiệp làm đơn tố cáo với cơ quan Công an, có doanh nghiệp khởi kiện vụ án tại Tòa án. 

  Khi đơn tố cáo gửi đến công an, đơn tố cáo tin báo về tội phạm thì mới chỉ là thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết đơn tố cáo về tội phạm, thu thập thông tin tài liệu, xác minh nguồn tin theo quy định tại điều 103 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02/8/2013 về việc hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, để xem xét khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự và thông báo kết quả cho cá nhân cơ quan tổ chức đã tố giác báo tin về tội phạm biết.

  Nội dung mà chi nhánh văn phòng luật sư Phạm và Liên danh thành phố Đà Nẵng phản ánh không nêu cụ thể, nhưng theo báo cáo của cơ quan điều tra Công an quận Hải Châu thì tháng 12 năm 2012 Công ty Việt Đức Tín có đơn tố cáo Công ty TNHH một thành viên Phượng Thi do ông Nguyễn Hữu Thuận làm Giám đốc không thực hiện đúng hợp đồng đại lý bán vé máy bay cho Công ty Việt Đức Tín chưa thanh toán số tiền 62.000.000đ và bỏ trốn. Căn cứ điều 103 BLTTHS và Thông tư liên tịch nêu trên cơ quan Công an quận Hải Châu đã thu thập xác minh chứng cứ và thông báo kết quả không khởi tố vụ án hình sự, hướng dẫn Công ty Việt Đức Tín khởi kiện vụ việc tại Tòa án nhân dân quận Hải Châu là đúng quy định của pháp luật.

  Sau khi nhận được thông báo kết quả hướng dẫn của cơ quan điều tra Công an quận Hải Châu, Công ty Việt Đức Tín đã khởi kiện Công ty Phượng Thi tại Tòa án nhân dân quận Hải Châu. Trong quá trình giải quyết vụ án do Công ty Phượng Thi không còn hoạt động và ông Nguyễn Hữu Thuận đi khỏi nơi cư trú trước khi khởi kiện tại Tòa án, do đó Tòa án nhân dân quận Hải Châu yêu cầu Công ty Việt Đức Tín cung cấp thông tin nơi cư trú hiện nay của ông Thuận hoặc làm đơn yêu cầu tìm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của BLTTDS năm 2004. Đến ngày 22/01/2013 Công ty Việt Đức Tín có đơn rút đơn khởi kiện và Tòa án nhân dân quận Hải Châu đã căn cứ điều 192 BLTTDS 2004 đình chỉ giải quyết vụ án là đúng pháp luật. Để khắc phục những bất cập nêu trên BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi bổ sung những trường hợp trên đề nghị chi nhánh văn phòng luật sư Phạm và Liên doanh hướng dẫn cho Công ty Việt Đức Tín khởi kiện lại vụ án.

(b) Sau khi có Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đã có những tiến bộ quan trọng. Quy trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật được đổi mới, kỷ năng soạn thảo xây dựng văn bản pháp luật ngày một nâng cao, rõ về nội dung, quy định cụ thể trong từng điều luật. Nhiều bộ luật, luật, pháp lệnh được ban hành đã tạo khuôn khổ pháp lý ngày càng hoàn chỉnh hơn để Nhà nước quản lý bằng pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại… Do vậy không có chuyện Thẩm phán viện dẫn, áp dụng điều luật tùy tiện chủ quan, khi xét xử các vụ án.

(c) Mặc dù phản ánh của đơn vị không cụ thể nhưng qua làm việc với lãnh đạo chi nhánh văn phòng luật sư Phạm và Liên doanh thành phố Đà Nẵng và báo cáo của Thẩm phán Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng thì đây là vụ án tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp về nhãm hiệu và tên thương mại do Công ty Cổ phần Intimex Việt Nam tại Hà Nội khởi kiện Công Ty Cổ phần Intimex Đà Nẵng. Qua quá trình giải quyết vụ án thì Công ty Intimex Đà Nẵng cung cấp tài liệu chứng minh là Công ty gửi đơn khiếu nại đến Cục sở hữu trí tuệ về việc cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãm hiệu cho Công ty Intimex Việt Nam. Do hết thời hạn chuẩn bị xét xử nên Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã ra quyết định tạm đình chỉ vụ án để chờ kết quả giải quyết của Cục sở hữu trí tuệ là đúng quy định tại điều 214 BLTTDS 2015. 

Sau khi nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của Cục sở hữu trí tuệ, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án. Tại điều 3 quyết định giải quyết khiếu nại của Cục sở hữu trí tuệ Bộ khoa học Công nghệ có ghi: Công ty Cổ phần tập đoàn Intimex có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định này theo quy định của pháp luật. Khi nhận được quyết định tiếp tục giải quyết vụ án thì Công ty Intimex Đà Nẵng và Công ty Cổ phần tập đoàn Intimex cung cấp chứng cứ thể hiện Cục sở hữu trí tuệ đang thụ lý khiếu nại, quyết định giải quyết khiếu nại. Nên xét thấy cần phải chờ quyết định giải quyết khiếu nại nên Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Do Công ty Cổ phần Intimex Việt Nam kháng cáo quyết định tạm đình chỉ nên Tòa án nhân dân thành phố đã chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để giải quyết theo thẩm quyền. Hiện nay chưa có kết quả.

(d) Căn cứ Điều 44 Luật thi hành án dân sự 2008; Điều 6 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 và Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP quy định về xác minh điều kiện thi hành án thì: Người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án…

Tuy nhiên, Điều 44 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 17/8/2015 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, đã thay thế Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 và Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013, không còn quy định người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án và trong mẫu đơn yêu cầu thi hành án thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành của người phải thi hành án chỉ quy định là (nếu có).

Trong quá trình thụ lý, tổ chức thi hành án, cơ quan Thi hành án dân sự đề nghị người được thi hành án cung cấp thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án là cùng có trách nhiệm phối hợp với cơ quan Thi hành án trong việc xác minh thi hành án, chứ không bắt buộc.

(e) Căn cứ Điều 60 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định người được thi hành án phải nộp phí thi hành án dân sự và Thông tư số 216/2016/TT-BTC ngày 10/11/2016 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án dân sự:

Tại khoản 2 của Thông tư: Người được thi hành án khi nhận được tiền, tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh; phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại phải nộp phí thi hành án dân sự theo quy định tại Thông tư này.  

Mức thu phí thi hành án dân sự; trường hợp không phải chịu phí thi hành án dân sự được quy định tại Điều 4, Điều 6 của Thông tư số 216/2016/TT-BTC.