Động Tàng Chơn - Núi Thủy Sơn

Nằm ở phía sau lưng chùa Linh Ứng, lối vào động được lót bằng gạch. Động khá lớn và sáng, có diện tích 10mx7m, chia làm 3 hang và 3 động.

Từ ngoài vào, qua một vòm cửa đá thiên tạo là miếu Linh Động Chơn Tiên. Miếu được dựng năm Minh Mạng thứ 6, hình thức miếu giống với Trang Nghiêm tự ở động Huyền Không. Miếu có 3 gian thờ: gian giữa thờ tượng Phật Thích Ca bằng đá (trước đây thờ Thái Thượng Lão Quân), gian hữu thờ Linh Sơn Thánh Mẫu – tượng nữ thần bằng đá sa thạch màu nâu xám, mang phong cách tiêu biểu cho nghệ thuật tạo hình Champa, gian tả thờ Tam Đa và Bát Tiên.

Ở giữa là động Tam Thanh, có hai tượng Hộ Pháp dựng ở lối vào, động sáng sủa, nền có lót gạch Chăm rải rác. Trước kia, động thờ 3 vị Thượng Thanh, Thái Thanh và Ngọc Thanh, ngày nay đã thay bằng hai pho tượng : Phật Thích Ca tọa thiền và Phật Thích Ca nhập niết bàn bằng đá. Trong góc bên trái có một đường cấp dẫn đến một hang bằng phẳng, gió mát lạnh đó là hang Gió hay là hang Thần Thượng (tức là hang của các bậc bề trên), hang thông với hang Thiên Long, gió lùa thoáng mát theo các lỗ thông tới đỉnh và động Chơn Tiên. Góc bên phải là hang Dơi hay hang Ráy, có ngách thông lên đỉnh núi, trong hang có nhiều dơi trú ngụ. Trong góc phía đông động Chơn Tiên có một phiến đá hình vuông gọi là Bàn Cờ, góc này còn gọi là góc Động Bàn Cờ.

Bên phải của miếu Linh Động Chơn Tiên là hang Chiêm Thành, lối vào hẹp, trong hang tối, có một đài thờ mang phong cách nghệ thuật Đồng Dương, chiếm phần lớn diện tích của lối vào hang. Đài thờ chia làm hai phần, phần đế có chiều ngang (mặt chính diện) là 2,87m, chiều cao 0,35m, không chạm trổ hoa văn, phần thân được chia là hai gồm phần cắt dọc bên phải và bên trái, nhưng có kính thước bằng nhau với chiều cao là 0,87m và chiều nang là 1,14m được chạm trổ cùng một kiểu thức hoa văn đó là những cánh hoa sen cách điệu thành hình kỷ nằm đối xứng nhau, ở chính giữa tác phẩm còn thể hiện hình tượng một cây sen có cả lá và hoa nhưng chưa được cách điệu với đường nét chạm trổ mộc mạc, đơn giản. Trên phần thân đài thờ mỗi bên đặt hai bệ đá hình chữ nhật thể hiện hình tượng các vị thần Hộ Pháp, theo dạng phù điêu, hai bệ đá này đều có kích thước bằng nhau với chiều ngang 1,2m, chiều cao 0,64, tượng thần Hộ pháp cao 0,53m. Riêng tác phẩm bên trái tượng thần Hộ pháp chạm theo dạng thức phù điêu nhưng rất đơn giản có những chi tiết cho thấy tác phẩm đang chạm dở dang, chưa hoàn chỉnh, gương mặt thần có vẻ hung dữ hơn thần Hộ pháp ở tác phẩm bên phải. Tay phải của thần đang cầm một thanh gươm trong tư thế giơ cao ra phía sau, còn tay trái cầm vật gì không rõ. Còn tác phẩm ở bên phải cũng cùng một kiểu thức, nhưng tượng Hộ pháp chạm sắc sảo hơn, đường nét đi vào chi tiết với gương mặt của thần trông phúc hậu, hiền lành, thần đang cầm một thanh gươm trên tay phải, đầu mũi gươm chúc xuống đất, tay trái cầm vật gì như mũi giáo, hai chân dang ra trong tư thế tấn công. Cả hai hình tượng thần Hộ pháp chưa được mô tả một cách thanh thoát, hơi gò ép khi đặt bên trong một khung hình chữ nhật với những diềm hoa hình con sâu rối rắm, nên càng trông nặng nề, tuy vậy, nhìn chung các tác phẩm ở hang Chiêm Thành là những tác phẩm có giá trị với hình tượng các vị thần Hộ pháp được chạm theo dạng phù điêu, rất ít thấy trong thời kỳ nghệ thuật Phật giáo Đồng Dương, thường các Hộ pháp được người Chăm mô tả ở dạng khối tròn và kích thước lớn hơn[1].

Phía trong cùng, sát vách hang Chiêm Thành có một bộ linga – yoni bằng đá. Linga có hai phần, phần trên là khối trụ lục giác nhỏ, phần dưới cũng có hình dạng tương tự nhưng kích thước lớn và dài hơn. Còn Yoni là khối tròn, xung quanh trang trí các núm vú căng tròn.

 


[1] Hồ Tấn Tuấn (2014), Ngũ Hành Sơn di sản văn hóa và danh thắng, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr. 204-205