Động Hóa Nghiêm - Núi Thủy Sơn

Từ chùa Tam Thai đi theo cổng phía sau chùa, rẽ sang bên trái là đường dẫn đến động Hóa Nghiêm và động Huyền Không, hai động này ở sát bên nhau nhưng động Hóa Nghiêm ở phía trước. Trước khi vào động Hóa Nghiêm và động Huyền Không du khách phải đi qua một cổng chính, xây bằng vôi vữa, trên vòm cổng có khắc 3 chữ Hán “Huyền Không Quan” (玄 空 關).

Bên trong động Hoa Nghiêm có thờ tượng Phật Bà Quan Thế Âm, tượng bằng đá, điệp màu với núi đá, cao gần vòm động. Tượng Phật do các nghệ nhân của làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước tạo dựng từ những năm 1960.

 Bên phải của tượng Phật Quan Âm là bia ma nhai “Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật” được khắc trực tiếp vào vách động. Bia được lập vào năm Canh Thìn (1640), đây là một trong những bia có niên đại xưa nhất ở Ngũ Hành Sơn. Bia có hình chữ nhật, kích thước 147cm x 65 cm, đỉnh tạo hình ovan; trán bia trang trí quả cầu lửa ở giữa, hai bên trang trí ¼ đóa hoa hướng dương; ngay dưới trán bia chạm 6 hình ô vuông gờ nổi, trong mỗi ô vuông khắc một đại tự và ghép thành tên của bia là “Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật”; diềm hai bên trang trí dây leo. Đế bia chạm hình hoa sen cách điệu và đặt trên một chiếc hộp chân quỳ. Lòng bia có 23 chữ Hán, khắc theo kiểu khải thư, nét không sâu, ca ngợi vị hoàng đế đương thời và công đức của 53 vị tín chủ.

Nội dung văn bia cho biết: Phạm Văn Nhân, tự là thiền sư Huệ Đạo Minh, [người] xã Du Xuyên, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, [hiện trú tại] xứ Quảng Nam nước Đại Việt. Nghĩ thấy dấu vết của Phật quá sụp nát, khuyên mời những người hiểu biết chung bỏ của nhà, hết lòng việc thiện để sửa chữa và dựng mới, trên là động núi Phổ Đà mới xây, dưới là chùa Bình An làm lại. Hai cảnh đã hoàn thành. Sau khi gọi thợ xây dựng xong xuôi nhanh chóng, nhà sư ở lại điều khiển việc đốt hương cúng Phật, hướng về tam bảo để đối với trên thì đền bốn ơn phải trả, đối với dưới thì vớt ba đường nghiệp ác, nguyện cùng sống ở nước Cực lạc. Dấu vết của Phật lưu truyền mãi mãi. Phần sau của văn bia liệt kê danh tính những người phụng cúng tiền bạc cho việc dựng chùa. Trong số này có nhiều người đến từ các địa phương khác, chứ không chỉ ở vùng lân cận. Ngoài ra, có một số người ngoại quốc lạc cúng tiền bạc và được liệt danh cụ thể.

Ngoài ra, trên vách động Hóa Nghiêm còn lưu lại một số bút tích khắc chạm bằng chữ Hán - Nôm của du khách, trong đó có bài thơ của Bố chánh tỉnh Quảng Nam, Loan Pha Trần Văn Thống, khắc chạm vào mùa xuân năm Tân Hợi thời Duy Tân

Chữ Hán – Nôm:

天 奇 地 秀 鬱 名 山

僧 佛 神 僊 會 此 間

天 載 吟題 無 剩 句

登 臨 惟 爇 辨 香 還

維 新 莘亥 春 三 月

廣 南 備 藩 湾 玻 陳 文 統 元 生 試

在 華 嚴 洞 璧

 

            Phiên âm:

Thiên kỳ địa tú uất danh san (sơn)

Tăng, phật, thần, tiên hội thử gian

Thiên tải ngâm đề vô thặng cú

Đăng lâm duy nhiệt biện hương hoàn

 

Duy tân, Tân Hợi xuân, tam nguyệt

Quảng Nam bị phiên, Loan Pha Trần Văn Thống tự Nguyên Sinh ghi tại Hoa Nghiêm động bích.

            Dịch văn xuôi:

            Thiên nhiên kỳ tuyệt, địa thế lạ thường đúc kết thành cảnh núi non nổi tiếng. Đây là nơi hội ngộ của tăng phật, thần tiên. Hàng ngàn năm các thi gia ngâm vịnh về cảnh này không hề có một câu thừa. Lên đây chỉ có lòng nhiệt thành thắp nén hương rồi về.

           Dịch văn vần:

                Kỳ tuyệt danh sơn giữa đất trời

                Thần, tiên, bụt, sãi ấy là nơi…

                Ngàn năm ngâm vịnh không thừa chữ

                Đến tỏ lòng thành thắp nén hương

               Tháng 3, mùa xuân năm Tân Hợi, niên hiệu Duy Tân. Bố chính tỉnh Quảng Nam, Loan Pha Trần Văn Thống tự Nguyên Sinh ghi tại vách đá động Hoa Nghiêm.[1]

Hay bài ca trù gồm 132 chữ (cả chữ Hán và chữ Nôm) ca ngợi Thắng cảnh Ngũ Hành Sơn của tác giả Tiểu Cao, tên tự của Nguyễn Văn Mại, người xã Niêm Phò, nay là xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên.

 


[1] Phiên âm và dịch nghĩa do cố Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Đình Thảng, nguyên giảng viên Khoa Ngữ  văn, Trường Đại học Khoa học Huế dịch.