Giá trị lịch sử

Ngũ Hành Sơn là một mảnh đất có lịch sử lâu đời, vốn là một trung tâm cư trú, trung tâm giao thương, trung tâm tín ngưỡng của người Chăm – cư dân bản địa trong lịch sử. Sau khi thuộc về Đại Việt, nơi đây trở thành một Trung tâm Phật giáo quan trọng. Ngay từ thế kỉ XVII, Phật giáo ở đây có sự ảnh hưởng rộng khắp và mang tính quốc tế. Tấm bia ma nhai Phổ Đà Linh Trung phật ở động Hoa Nghiêm đã thể hiện rõ điều này. Nội dung trên cho thấy trước năm Canh Thìn (1640) đã có di tích Phật giáo (cụ thể là chùa Bình An).

Tiếp theo nội dung bia ghi danh tính của 53 Phật tử công đức. Đặc biệt, trong số đó, có 10 người Nhật Bản (trong đó có ba người là thương nhân đến buôn bán và bảy người sinh sống tại dinh Nhật Bản ở Hội An) và ba người Trung Hoa. Và số tiền họ phụng cúng là 1.915 quan tiền, 65 lạng bạc nén và 570 cân đồng để xây dựng chùa Bình An. Điều đó chứng tỏ, từ thế kỷ XVII Ngũ Hành Sơn đã trở thành trung tâm thờ Phật mang tầm quốc tế. Mặt khác, cho thấy cũng từ thế kỷ XVII, đã có nhiều thương thuyền Nhật Bản cập bến làm ăn buôn bán tại Hội An tạo nên mối quan hệ giao lưu kinh tế - văn hóa giữa hai nước, đặc biệt là sự giao kết giữa người dân hai vùng Quảng Nam - Đà Nẵng và vùng Nagaya (Nhật Bản) từ 4 thế kỷ trước.

Theo Lê Mạnh Thát: “Điều này chứng tỏ, Phật giáo Việt Nam vào nửa đầu thế kỷ XVII đã hội nhập và mang tính quốc tế cao, thu hút sự quan tâm và sùng bái của không chỉ dân tộc mình mà của cả dân tộc khác. Thêm vào đó, sự xuất hiện của các người ngoại quốc ở vùng núi Ngũ Hành Sơn chứng tỏ vùng đất này từ rất lâu đã trở thành một trung tâm văn hóa của cảng Hội An và là một bộ phận của thành phố thương mại này. Sự kiện này giúp ta hiểu đến cuối thế kỷ XVII, khi Thiền sư Đại Sán Thạch Liêm trên đường hoằng hóa ở nước ta, đã qua lại vùng Ngũ Hành Sơn này một thời gian. Vậy, Ngũ Hành Sơn hôm nay là một trung tâm Phật giáo lớn của cả nước thì bốn trăm năm trước, Ngũ Hành Sơn đã là như thế” [1].

Đến cuối thế kỷ XVII, Ngũ Hành Sơn đã tiếp nhận sự truyền nhập của 2 phái thiền Tào Động và Lâm Tế.

          Ngũ Hành Sơn là nơi đầu tiên không chỉ ở Quảng Nam - Đà Nẵng, mà còn cả xứ Đàng Trong đón nhận sự truyền nhập của thiền phái Tào Động từ Trung Hoa[2]. Thiền phái này ở Đàng Trong gắn với tên tuổi của hai vị danh tăng Trung Hoa là Thạch Liêm và Hưng Liên.

Sau khi sang Đàng Trong, Thiền sư Hưng Liên đã đến Ngũ Hành Sơn trụ trì chùa Tam Thai, hoằng truyền Phật pháp. Cảnh chùa Tam Thai của Quốc sư Hưng Liên được Thích Đại Sán mô tả trong dịp ghé thăm năm 1695 như sau: “Bỗng chốc đã thấy núi Tam Thai trước mắt (…). Chúng tôi đi cách núi còn chừng nửa dặm, thấy một thầy sãi đứng nhìn chăm chỉ, rồi chạy vội chui vào kẽ đá sau núi đi mất. Trước núi có một cái gò, trước gò trèo lên chừng trăm bước có một ngôi chùa cổ. Sãi trông chùa đánh chuông trống, mặc áo tràng ra rước vào lễ Phật. Mời ngồi, thết trà, cung đốn tươm tất (…). Quanh co chuyển qua tay phải, nơi an trí của tăng ni; lối quanh co u tịch, phơi phới hoa rơi, chỉ có bầy ong núi vù vù đua nhau cướp nhụy. Am chủ mời ngồi, uống một chung trà, lại đi (…). Xuống đến Viện, ăn chay xong, liền thấy võng Quốc sư, đi theo đường bộ mới đến”[3] . Khi đến Đàng Trong, Thiền sư Hưng Liên được chúa Nguyễn mộ tín phong làm Quốc sư. Chắc hẳn, ông phải là một danh tăng uyên áo, giới hạnh thanh tịnh và có sự ảnh hưởng lớn trong hàng tăng chúng. Chúng ta không có nhiều cứ liệu về hoạt động hoằng pháp của thiền sư. Nhưng ghi chép của Thích Đại Sán trong Hải ngoại kỷ sự phần nào cho thấy, trong suốt thời gian hoằng pháp tại Đàng Trong, sư Thạch Liêm và Hưng Liên đã tổ chức khai đàn truyền giới tại chùa Thiền Lâm ở Kinh thành Phú Xuân và tại chùa Di Đà ở Hội An, tạo sức ảnh hưởng và lan tỏa lớn trong xã hội[4].

Đồng thời với Thiền phái Tào Động của Quốc sư Hưng Liên, Ngũ Hành Sơn còn đón nhận một thiền sư khác thuộc Thiền phái Lâm Tế đến hoằng pháp. Văn bia chùa Thái Bình (chùa gần ngọn Thủy Sơn và Thổ Sơn) cho chúng ta biết điều này. Bia tạo dựng ngày 11 tháng 7 năm Tân Sửu (Vĩnh Thịnh thứ 17), tức năm 1721, nhằm lưu truyền công hạnh của bổn sư và công đức của thập phương tín cúng Tam bảo. Theo văn bia, trước đây có vị đại sư Lưu Chân Dĩnh, người tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc) thuộc dòng Lâm Tế chính tông thứ chín đến đây dựng chùa hành đạo, kéo dài 24 năm. Trong quá trình đó, sư không ngừng chăm lo phát triển bổn tự, hiển dương Phật pháp, mua nhiều kinh luật, pháp khí, ruộng đất cho chùa, đặc biệt là “giáo hóa được 3.000 giới tử”. Ngài là người “tuổi cao đức trọng, đạo thông Tây Vực”, được tôn xưng là “Nam Lão hòa thượng”. Vì thế, nhiều địa phương trong vùng cúng ruộng đất vào chùa với số lượng rất lớn. Đặc biệt hơn, “Đức Hiền vương chuẩn tô thuế 11 mẫu ruộng. Đức Nghĩa vương chuẩn tô thuế 12 mẫu ruộng. Đương kim quốc vương cúng 39 tiền 12 quan 5 mạch”. Như vậy, chùa Thái Bình còn nhận được sự quan tâm của ba đời chúa Nguyễn kế tiếp là chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648 - 1687), chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn (1687 - 1692) và Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725)[5].

Văn bia chùa Thái Bình cho thấy, khi đến Ngũ Hành Sơn, Phật pháp do Thiền sư Lưu Chân Dĩnh hoằng truyền nhanh chóng cắm rễ và lan tỏa rộng trong xã hội, nhận được sự tín mộ của cả chúa Nguyễn.

Tóm lại, vào cuối thế kỷ XVII, Ngũ Hành Sơn đã đón nhận đồng thời hai thiền phái Tào Động và Lâm Tế với các thiền sư rất danh tiếng và là nơi tạo được không khí sinh hoạt Phật giáo hưng thịnh bậc nhất ở Quảng Nam - Đà Nẵng. Trong bối cảnh Phật giáo Đàng lúc bấy giờ, Ngũ Hành Sơn trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng, giữ vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển, tạo nên sự đa dạng của Phật giáo trên vùng đất phía nam đèo Hải Vân này.

Trong các cuộc kháng chiến vệ quốc, di tích thắng cảnh Ngũ Hành Sơn với lợi thế về vị trí chiến lược và địa hình núi non, hang động đã một thời là địa chỉ đỏ tự hào của quân dân Quảng Nam - Đà Nẵng và là địa chỉ đen kinh hoàng đối với quân xâm lược. Một di tích văn hóa gắn liền với lịch sử đấu tranh cách mạng làm nên một vùng đất địa linh nhân kiệt. Không phải ngẫu nhiên mà nhà chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng thăm núi Ngũ Hành Sơn đã luận rằng “Núi thấp hơn hết mà danh cao hơn hết”.

 


[1] Lê Mạnh Thát (2011), “Mấy cảm nghĩ về Ngũ Hành Sơn: vùng lịch sử, văn hóa tâm linh”, trong Ngũ Hành Sơn: vùng lịch sử, văn hóa tâm linh, Nxb. Văn học, Hà Nội, tr 19-20.

[2] Lê Xuân Thông (2014), Một trung tâm Phật giáo Quảng Nam – Đà Nẵng thế kỷ XVII, Tập chí nghiên cứu Tôn giáo, số 07 (133), tr70

[3] Thích Đại Sán (1963), Hải ngoại kỷ sự, Bản dịch của Ủy ban Phiên dịch Sử liệu Việt Nam, Viện Đại học Huế, Huế, tr. 147 - 149.

[4] Lê Xuân Thông (2014), Một trung tâm Phật giáo Quảng Nam – Đà Nẵng thế kỷ XVII, Tập chí nghiên cứu Tôn giáo, số 07 (133), tr70

[5] Lê Xuân Thông (2014), Một trung tâm Phật giáo Quảng Nam – Đà Nẵng thế kỷ XVII, Tập chí nghiên cứu Tôn giáo, số 07 (133), tr72