Hệ thống Cảng Đà Nẵng

Quá khứ vàng son
Trong quá khứ, Đà Nẵng là một địa danh nằm bên bờ một vịnh biển cũng là một cửa sông mà địa hình tạo ra một ưu thế rất đắc dụng như sách Đại Nam nhất thống chí của triều Nguyễn đã chép: “ấy là chỗ nước biển chứa làm một vũng lớn, nước sâu lại rộng, ngoài có cá núi ngăn che, không có ba đào ồ ạt, những ghe tàu qua lại gặp gió lớn hay đậu nghỉ nơi đây” (Quyển 5).

Tài liệu của Bồ Đào Nha cũng nhận xét: “Các tàu có trọng tải lớn không thể vào sông Hội An nên phải xuống hàng ở Đà Nẵng”. Ghi chú của Le Floch de la Carrière dưới bản đồ vẽ năm 1787 cũng cho rằng “vịnh Đà Nẵng có thể tiếp nhận những tàu buôn lớn nhất và là hải cảng rất thuận lợi”. Cho đến năm 1887, tức là chỉ một năm trước khi Đà Nẵng trở thành nhượng địa, người ta vẫn ghi được số liệu: năm đó có 623 chuyến tàu (xà lúp chạy hơi nước của người phương Tây và ghe thuyền của người Hoa, Việt Nam) ghé cảng Đà Nẵng (54 tàu Pháp, 2 Anh, 65 Đức, 8 Đan Mạch…) với tổng trọng tải 65.840 tấn và 719 tàu thuyền với 75.676 tấn rời Đà Nẵng. Trong năm 1886, Đà Nẵng còn xuất hàng hóa giá trị 2.708.029F, nhập 4.217.142F thì qua năm 1887 xuất chỉ còn 83.960F nhưng nhập thì tăng lên 5.605.762F.

Tất cả số liệu ấy cho thấy hoạt động thương mại qua cửa biển Đà Nẵng khá sầm uất, nhưng điều đáng chú ý là lúc đó chủ yếu Đà Nẵng chỉ là điểm chuyển tải và mang tính chất tiền cảng. Hoàn toàn chưa có những cơ sở hạ tầng và thiết bị tối thiểu cho một hải cảng.

Tình trạng khai thác một cảng tự nhiên kéo dài nhờ những lợi thế về địa hình. Nhờ có hai thủy lộ nên các tàu thuyền có trọng tải 200 tấn có thể cập bến tả ngạn sông Hàn và theo một phúc trình được viết vào năm 1905 thì trong 15 năm trước đó thường xuyên các chuyến tàu của các hãng hàng hải như Đầu Ngựa hay Năm Sao (Messageres Maritimes, Charges Resunis…) đi lại trên các tuyến đường ở Đông Dương và đến Hồng Kông.

Tuy nhiên do không quan tâm đến việc tổ chức hải cảng và bảo hiểm hàng hải theo các phương tiện thông tin liên lạc và nhất là do các thủy lộ bị cát bồi nên Đà Nẵng đứng trước nguy cơ mất đi những ưu thế vốn có của mình. Cho đến năm 1902, cả Đà Nẵng vẫn chưa có một cầu tàu nào, bến bãi hoàn toàn do các hãng tàu tự lo liệu, và cũng đến lúc này ở hải cảng cũng chưa có nổi một chiếc cần trục…

Trước tình hình đó, đầu năm 1905, công việc cải thiện tình trạng của cảng cũng bắt đầu được xúc tiến. Một ủy ban công chánh đưa ra một dự án xây dựng một đập đá ở cửa sông để ngăn bớt sự bồi lấp của các trên các thủy lộ. Đến năm 1922 đã thấy hai con đập xuất hiện trên bản đồ của cảng, cải thiện lối ra vào các thủy lộ nối liên bến đậu ở Tiên Sa đi sâu vào lòng sông Hàn để cấp bến tả ngạn. Tháng 10/1925 một ủy ban công tác cải thiện cảng đã được Khâm sứ Trung kỳ thành lập. Năm 1935 cảng còn trang bị một tàu nạo vét (xáng) Guillenot (con tàu này đến năm 1944 bị máy bay Mỹ đánh đắm). Đến năm 1930 cảng đã có hai cần trục hơi nước có sức nâng 2,5 tấn và đến năm 1933 hải cảng đã có 13 cầu tàu.

Ở cửa biển vào vịnh, từ năm 1902 hải đăng đã dược xây cất, năm 1906 dựng các cột hiệu (cột thủ ngữ - maatss des signeaux), năm 1913 công chính lắp một hỏa hiệu (feurouge) ở Tiên Sa. Năm 1913, một đài vô tuyến được lập ở Sơn Trà để tiếp nhận thông tin khí tượng phát đi từ đài Phủ Liễn (Kiến An) và bảo đảm liên lạc từ đất liền tới các con tàu (năm 1914 bắt đầu hoạt động).

Các cơ quan hỗ trợ cho hoạt động của cảng cũng dần được hoàn thiện, trong đó kể cả cơ quan cảnh sát, hải quan, y tế… Có thể nói rằng đến khoảng những năm 1933-1935 cảng Đà Nẵng đã tương đối hoàn chỉnh đi vào hoạt động và phát triển. Tuy vậy, cho đến lúc chế độ thuộc địa bị sụp đổ, hải cảng đứng hạng thứ ba của Đông Dương (sau Sài Gòn và Hải Phòng) này vẫn chưa có được một quy chế hoạt động như nhiều bến cảng khác.

Qua một vài con số dưới đây phản ánh phần nào hoạt động của cảng.

Năm 1908, Đà Nẵng xuất 12.500 tấn gồm 6.200 tấn gạo và 6.300 tấn bắp.

Năm 1909:

Nhập từ
Trọng lượng nhập
Xuất từ Đà Nẵng sang
Pháp
2.814,814 tấn
11.427,076 tấn
Ngoại quốc
3.542,141 tấn
19.505,382 tấn
Bắc Kỳ
4.103,754 tấn
3.407,835 tấn

Nam Kỳ

835.505 tấn
5.206,420 tấn
Các xứ khác
16.295,502 tấn
7.532,007 tấn
Cộng
27.591,716 tấn
47.198,720 tấn
 
Năm 1937 con số nhập cảng là 52.490 tấn và năm 1939 do chiến tranh thế giới bùng nổ, con số này sụt xuống còn 24.136,3 tấn.

Đến Cảng biển loại I cấp quốc gia
Ngày nay cảng biển Đà Nẵng được xếp vào hạng cảng biển loại I cấp quốc gia. Cảng Đà Nẵng bao gồm hai khu cảng chính là Xí nghiệp Cảng Tiên sa và Xí nghiệp Cảng Sông Hàn, với 1.493m cầu bến, thiết bị xếp dỡ và các kho bãi hiện đại phục vụ cho năng lực khai thác của cảng đạt 6 triệu tấn/năm. Cảng Tiên Sa là cảng biển nước sâu tự nhiên, có độ sâu lớn nhất là 12m nước, chiều dài cầu bến là 965 mét, bao gồm 2 cầu nhô và 1 cầu liền bờ chuyên dụng khai thác container. Cảng Tiên Sa có khả năng tiếp nhận tàu hàng tổng hợp đến 40.000 DWT,  tàu container đến 2.000 teus và tàu khách đến 75.000 GRT. Cảng Tiên Sa được coi là một trong số ít các cảng tại Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi và tiềm năng để phát triển thành một cảng biển lớn.
 
Cảng Sông Hàn nằm ở hạ lưu Sông Hàn trong lòng Thành phố Đà Nẵng,  chiều dài cầu bến là 528 mét, thuận lợi trong việc lưu thông hàng hóa nội địa. 
Trang thiết bị của Cảng Đà Nẵng được đầu tư khá tiên tiến với các cẩu chuyên dụng các loại như cẩu bốc dỡ container (Gantry 36-40T), cẩu khung bánh lốp (RTG 36-40T), cẩu bờ cố định (Liebherr 40T). Một số thiết bị chuyên dụng của Cảng Đà Nẵng:
 

Tên thiết bị

Số lượng

* Cẩu chuyên dùng bốc dỡ container (Gantry) ở cầu tàu, sức nâng:  36-50T

02 chiếc

* Cẩu khung bánh lốp (RTG) chuyên bốc dỡ container ở bãi sức nâng: 36-45T

02 chiếc
*Cẩu cảng cố định (Liebherr)sức nâng 40 tấn
02 chiếc
* Xe nâng chụp container
03 chiếc
* Xe cạp gỗ 5 T
02 chiếc
* Cẩu bãi 10 tấn - 80 tấn
23 chiếc
* Nâng xúc các loại 1,5 tấn - 7 tấn
32 chiếc

* Xe đầu kéo, xe ben

28 chiếc
* Tàu kéo 500 cv - 1.700 cv
06 chiếc
* Ổ cắm điện container lạnh các loại
28 ổ
* Cân điện tử
03 cân

                                        Nguồn:Cảng Đà Nẵng               

Lượng hàng qua cảng Đà Nẵng tăng đều qua các năm:

Lượng hàng container qua cảng Đà Nẵng

Nguồn: Công ty TNHH MTV Cảng Đà Nẵng

* Quy hoạch phát triển

Theo Quyết định 1743 /QĐ-BGTVT ngày 3/8/2011 của Bộ Giao Thông Vận tải Phê duyệt Quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển Trung Trung Bộ (Nhóm 3) đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Trong đó:
-  Cảng Đà Nẵng: là cảng tổng hợp quốc gia, đầu mối khu vực (loại I), bao gồm các khu bến chức năng : Tiên Sa, Sơn Trà (Thọ Quang) và Liên Chiểu.
+    Khu bến Tiên Sa: là bến tổng hợp, container, có bến chuyên dùng khách du lịch quốc tế. Giai đoạn 2015: nâng cấp cải tạo các bến hiện hữu và xây mới 01 bến cho tàu 50.000 DWT; Giai đoạn 2020: xây mới 01 bến khách cho tàu đến 100.000 GRT phục vụ khách du lịch quốc tế và bổ sung 01 bến 50.000 DWT trên cơ sở nối 2 bến nhô hiện hữu. Năng lực thông qua năm 2015 đạt 5,0 triệu T/năm, năm 2020 khoảng 5,5 triệu T/năm và 300 nghìn lượt khách/năm.
+    Khu bến Sơn Trà (Thọ Quang): Phục vụ di dời khu bến Sông Hàn, Nại Hiên và Mỹ Khê.
•    Bến tổng hợp: xây mới 02 bến cho tàu 10.000 DWT. Năng lực thông qua 1,5 - 1,8 triệu T/năm.
•    Bến xăng dầu: Quy mô gồm 02 bến cho tàu 10.000 DWT. Năng lực thông qua 0,8 - 1,2 triệu T/năm.
•    Bến khí hóa lỏng, đạm: Quy mô 01 bến cho tàu 5.000 DWT, năng lực thông qua 0,5 triệu T/năm.
+    Khu bến Liên Chiểu: là bến chuyên dùng có bến tổng hợp, phục vụ các khu công nghiệp của thành phố Đà Nẵng và tương lai hỗ trợ bến Tiên Sa khi phát triển hết công suất. Quy mô cho tàu 50.000 - 80.000 DWT. Đây là khu phát triển có điều kiện, quy mô theo tiến trình đầu tư các khu công nghiệp phía sau. Giai đoạn 2020 xây mới 02 bến cho tàu 50.000 DWT. Năng lực thông qua năm 2020 khoảng 2,5 - 3,5 triệu T/năm.
•    Bến xăng dầu: 03 bến hiện hữu cho tàu 10.000 - 30.000 DWT. Năng lực thông qua khoảng 1,0 - 1,5 triệu T/năm.
•    Bến xi măng Hải Vân: bến chuyên dùng phục vụ nhà máy xi măng Hải Vân, quy mô như hiện hữu gồm 01 bến cho tàu 7.000 DWT. Trong tương lai được di dời cùng với nhà máy.
+    Khu bến Sông Hàn: Ngừng khai thác bốc xếp hàng hóa, chuyển đổi công năng thành khu dịch vụ hàng hải, du lịch.

Theo kế hoạch đầu tư phát triển năng lực khai thác đến năm 2015, Cảng Đà Nẵng sẽ tiếp tục triển khai một số hạng mục dự án đầu tư. Cụ thể:
+ Dự án đầu tư khu Cảng Sơn Trà 2011- 2015

Chiều dài cầu Cảng: 400 mét.
Mớn nước: 9 mét
Sản lượng thông qua: 1,5 triệu tấn/năm.
Thời gian hoàn thành: cuối năm 2012 (hoàn thành giai đoạn I)
Tổng vốn đầu tư: 454 tỷ đồng
+ Dự án đầu tư mở rộng Cảng Tiên Sa giai đoạn II (2012- 2015)
Xây mới 1 bến liền bờ dài 500 mét với độ sâu 13-14 mét, diện tích kho bãi gần 100.000 m2 cùng với thiết bị khai thác chuyên dụng, đáp ứng tàu hàng tổng hợp 50.000 DWT, tàu container 3.000 Teus.

 +  Thành lập khu kho, bãi  trung chuyển diện tích 30ha đến 50ha.

Tổng giá trị đầu tư ước thực hiện 60 triệu USD

Tài liệu tham khảo:
- Lịch sử thành phố Đà Nẵng, NXB Đà Nẵng 2001;
- Website Cảng Đà Nẵng
- Quyết định 1743 /QĐ-BGTVT ngày 3/8/2011 của Bộ Giao Thông Vận tải Phê duyệt Quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển Trung Trung Bộ (Nhóm 3) đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.

Cổng TTĐT thành phố