Đỗ Thế Chấp (1922-1992)
Sau Hiệp đinh Giơnevơ (20/7/954), ông được phân công ở lại miền Nam, xây dựng phong trào cách mạng. Trong suốt 21 năm chống Mỹ, ông đã giữ các trọng trách: Bí thư Huyện ủy Tam Kỳ, Trưởng Ban công tác vùng hậu địch, Chính trị viên Tỉnh đội, Phó Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam.
Ông là một cán bộ lãnh đạo giàu mưu lược, dũng cảm, đặc biệt là tài vận động quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng, có nhiều kinh nghiệm, sáng tạo trong chỉ đạo chiến tranh du kích, diệt ác, phá kềm. Ông đã đưa được đồng chí Nguyễn Lương Y vào làm thư ký riêng cho tướng ngụy Nguyễn Chánh Thi, Tư lệnh vùng 1 chiến thuật, để khai thác nguồn tin tình báo của địch; xây dựng được 12 chi bộ Đảng hợp pháp hoạt động trong lòng địch suốt những năm chống Mỹ.
Bản thân ông đã nhiều lần cải trang đột nhập vào tận sào huyệt của địch để nắm tình hình và tổ chức nhiều trận đánh bất ngờ, giành thắng lợi đáng kể. Ông đã góp phần vào trận tấn công đốt kho xăng của địch gần 2 triệu lít, loại khỏi vòng 92 chiến đấu hàng trăm tên địch. Tháng 5/1967, ông chỉ huy lực lượng bộ đội chống càn dài ngày của địch ở các xã Tam Trà, Kỳ Yên, Kỳ Quốc phối hợp với du kích đánh địch liên tục, loại khỏi vòng chiến đấu 750 tên, phá huỷ hai khẩu pháo 105 ly, bắn cháy 5 máy bay HU1A và “tàu rọ”, phá huỷ 40 xe M113.
Trong trận tổng Tấn công mùa Xuân 1975, ông là một trong những người chỉ huy giải phóng Tỉnh đường Quảng Tín. Năm 1982, ở vào tuổi 60, ông vẫn xung phong đi làm nhiệm vụ quốc tế ở nước bạn Campuchia và được nước bạn tặng thưởng Huân chương Ăngko. Ông được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Ba.
Ông qua đời ngày 29 tháng 1 năm 1992 tại thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam do tuổi cao, sức yếu.
Ngày 10 tháng 4 năm 2001, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Cổng TTĐT thành phố
Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)
Cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc nhỏ tên là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Minh Viên, sinh tháng 10/1876 (Tự Đức 19) tại làng Thạnh Bình, tông Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, (nay là Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng trong một gia đình nông hào, gốc Nho học.
Một vài mẩu chuyện về cụ Huỳnh Thúc Kháng
Nguyễn Văn Thoại (1761 - 1829)
Ông quê làng Bắc Mỹ An, huyện Diên Phước, trấn Quảng Nam, nay là phường Bắc Mỹ An, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Tên thật là Nguyễn Văn Thụy, do kỵ húy mà đổi là Thoại. Thời niên thiếu, Nguyễn Văn Thoại cùng gia đình di cư vào Nam đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), sống tại làng Thới Bình, trên cù lao Dài, nay thuộc huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Niên biểu Phan Châu Trinh (1872-1924)
Ông Ích Khiêm (1831-1884)
Hiệu là Mạc Chi, sinh năm Tân Mão (1831) ở làng Phong Lệ, nay là xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Năm 16 tuổi, đỗ cử nhân thứ 14 trong 116 vị tân khoa (1847), được bổ làm việc ở nội các, rồi chuyển làm Tri huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương). Là người tài kiêm văn võ, từng làm đến Tiễu phủ sứ, nên dân địa phương thường gọi ông là "ông Tiểu Phong Lệ" và được phong tước hiệu Kiên dũng nam. Tính khí khái, cương trực, ghét thói xu phụ nên nhiều lần bị giáng chức, rồi được phục hội, lại bị giáng, lại phục hội,…
Phan Châu Trinh (1872 - 1926)
Phan Châu Trinh cùng với Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp phát động phong trào Duy Tân ở Quảng Nam với 3 mục tiêu: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.
Ông Ích Đường (1890-1908)
Ông sinh tại làng Phong Lệ, xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc Phường Hoà Thọ, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng).Ông là cháu nội danh tướng Ông Ích Khiêm. Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, thì Ông Ích Đường là người giỏi văn võ, có chí lớn, có tính phóng khoáng, có đức độ bậc trượng phu, thường binh vực kẻ nghèo yếu, chống lại bọn cường hào ác bá.
Nguyễn Tri Phương (1800 - 1873)
Tên thật là Nguyễn Văn Chương, quê làng Đường Long, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, còn tên Nguyễn Tri Phương do vua Tự Đức cải tên (1850), hàm ý nói về con người nghĩa dũng, nhiều mưu chước. Từ đó, Nguyễn Tri Phương trở thành tên chính của ông. Xuất thân trong một gia đình nông dân, không được qua trường lớp, nhưng nhờ trí thông minh và ý chí tự học, tự lập cao, đã làm nên sự nghiệp lớn. Bắt đầu từ chân thơ lại ở cấp huyện, do tài năng mà được tiến cử lên triều đình Minh Mạng, được thu dụng và lần lượt giữ nhiều chức vụ trọng yếu suốt ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức.
Hoàng Diệu (1828 - 1882)
Hoàng Diệu là một vị quan nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, người đã quyết tử bảo vệ thành Hà Nội khi Pháp tấn công năm 1882.Hoàng Diệu còn có tên là Hoàng Kim Tích, tự là Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai, sinh ngày 10-2-1828, trong gia đình nho học ở làng Xuân Đài, huyện Diên Phước, nay thuộc xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Nổi tiếng thơ văn từ năm 16 tuổi. Năm 20 tuổi đỗ cử nhân (1848), 26 tuổi đỗ phó bảng (1853); được bổ Tri huyện Tuy Phước, thăng Tri phủ Tuy Viễn (cùng trong tỉnh Bình Định).
Nguyễn Duy Hiệu (1847 - 1887)
Nguyễn Duy Hiệu hiệu là Hữu Thành, sinh năm Đinh Mùi (1847) ở làng Thanh Hà, huyện Diên Phước, nay là xã Cẩm Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Thuở bé thông minh, học giỏi. Đỗ tú tài năm 16 tuổi, đỗ cử nhân năm 29 tuổi, 3 năm sau đỗ phó bảng, cùng khoa với Nguyễn Đôn Tiết (Thanh Hóa), Trần Đình Phong (Nghệ An).


Chưa có bình luận ý kiến bài viết!