Phan Bôi (1911 - 1947)
Ra Hà Nội, làm công nhân nhà in, tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1929, vào Sài Gòn hoạt động cách mạng, rồi gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương.
Ngày 8-2-1931, Phan Bôi tổ chức diễn thuyết gần sân bóng đá Mayer, khi trận đấu vừa kết thúc. Trong khi đang phát biểu với thính giả, thì thanh tra mật thám Legrand nhảy lên diễn đàn chụp bắt ông. Lý Tự Trọng, người được phân công bảo vệ Phan Bôi, đã nổ súng bắn gục Legrand. Cả hai người bị bắt ngay sau đó. Tòa án thực dân kết tội Lý Tự Trọng tử hình, còn Phan Bôi 20 năm khổ sai, đày ra Côn Đảo.
Năm 1936, Mặt trận Nhân dân lên cầm quyền ở Pháp, nhiều tù chính trị ở Đông Dương được trả tự do. Từ Côn Đảo trở về, Phan Bôi tham gia ngay vào hoạt động của Mặt trận Dân chủ Đông Dương ở Đà Nẵng, dẫn đầu đoàn đại biểu lao động đi đón phái viên Godart. Sau đó, ông ra Hà Nội hoạt động trong phong trào Đông Dương đại hội, viết cho các báo tiếng Pháp như Le Travail (Lao động), Notre Voix (Tiếng nói của chúng ta), Rassemblement (Tập hợp) và các báo tiếng Việt như Dân chúng, Ngày nay, Tin tức…
Tháng 5-1940, Phan Bôi bị bắt cùng với một số đồng chí khác, bị đày đi Bắc Mê (Hà Giang), đến cuối năm 1941 bị đưa sang Madagasca (hòn đảo châu Phi thuộc Pháp trên Ấn Độ Dương). Ngày 4-6-1943, Phan Bôi, Lê Giản và một số đồng chí khác được viên công sứ Pháp ở đây tuyên bố phóng thích. Chúng đưa họ về một căn cứ Anh ở Ấn Độ, rồi chọn Lê Giản và Phan Bôi đi huấn luyện quân sự và tập nhảy dù, rồi sau đó dùng máy bay, thả xuống rừng Việt Bắc để tuyên truyền chống Nhật giúp cho Đồng minh (1944). Nhân cơ hội này, Phan Bôi đã liên lạc với tổ chức Đảng bí mật ở Cao Bằng, rồi tiếp tục hoạt động trong phong trào Việt Minh ở Việt Bắc.
Sau Cách mạng Tháng 8-1945, Phan Bôi được bầu làm đại biểu Quốc hội của tỉnh Quảng Nam khóa I. Ông được cử làm Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Chánh văn phòng Phủ Chủ tịch. Sau Hiệp định Sơ bộ (3-1946), ông nhận nhiệm vụ Trưởng ban Liên kiểm Việt - Pháp. Đầu kháng chiến chống Pháp, khi Chính phủ chuyển từ Hà Nội lên chiến khu Việt Bắc, ông có nhiều đóng góp trong việc xây dựng chính quyền kháng chiến ở thời kỳ đầu. Ông mất trong một tai nạn trên sông Lô (Tuyên Quang) năm 1947.
Ghi nhận những đóng góp của ông, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã quyết định đặt tên một con đường mang tên Phan Bôi dài 700m, rộng 5,5m, nối từ đường Ngô Quyền đến đường Nguyễn Công Trứ thuộc quận Sơn Trà.
Cổng TTĐT thành phố
Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)
Cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc nhỏ tên là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Minh Viên, sinh tháng 10/1876 (Tự Đức 19) tại làng Thạnh Bình, tông Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, (nay là Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng trong một gia đình nông hào, gốc Nho học.
Một vài mẩu chuyện về cụ Huỳnh Thúc Kháng
Nguyễn Văn Thoại (1761 - 1829)
Ông quê làng Bắc Mỹ An, huyện Diên Phước, trấn Quảng Nam, nay là phường Bắc Mỹ An, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Tên thật là Nguyễn Văn Thụy, do kỵ húy mà đổi là Thoại. Thời niên thiếu, Nguyễn Văn Thoại cùng gia đình di cư vào Nam đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), sống tại làng Thới Bình, trên cù lao Dài, nay thuộc huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Niên biểu Phan Châu Trinh (1872-1924)
Ông Ích Khiêm (1831-1884)
Hiệu là Mạc Chi, sinh năm Tân Mão (1831) ở làng Phong Lệ, nay là xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Năm 16 tuổi, đỗ cử nhân thứ 14 trong 116 vị tân khoa (1847), được bổ làm việc ở nội các, rồi chuyển làm Tri huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương). Là người tài kiêm văn võ, từng làm đến Tiễu phủ sứ, nên dân địa phương thường gọi ông là "ông Tiểu Phong Lệ" và được phong tước hiệu Kiên dũng nam. Tính khí khái, cương trực, ghét thói xu phụ nên nhiều lần bị giáng chức, rồi được phục hội, lại bị giáng, lại phục hội,…
Phan Châu Trinh (1872 - 1926)
Phan Châu Trinh cùng với Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp phát động phong trào Duy Tân ở Quảng Nam với 3 mục tiêu: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.
Ông Ích Đường (1890-1908)
Ông sinh tại làng Phong Lệ, xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc Phường Hoà Thọ, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng).Ông là cháu nội danh tướng Ông Ích Khiêm. Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, thì Ông Ích Đường là người giỏi văn võ, có chí lớn, có tính phóng khoáng, có đức độ bậc trượng phu, thường binh vực kẻ nghèo yếu, chống lại bọn cường hào ác bá.
Nguyễn Tri Phương (1800 - 1873)
Tên thật là Nguyễn Văn Chương, quê làng Đường Long, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, còn tên Nguyễn Tri Phương do vua Tự Đức cải tên (1850), hàm ý nói về con người nghĩa dũng, nhiều mưu chước. Từ đó, Nguyễn Tri Phương trở thành tên chính của ông. Xuất thân trong một gia đình nông dân, không được qua trường lớp, nhưng nhờ trí thông minh và ý chí tự học, tự lập cao, đã làm nên sự nghiệp lớn. Bắt đầu từ chân thơ lại ở cấp huyện, do tài năng mà được tiến cử lên triều đình Minh Mạng, được thu dụng và lần lượt giữ nhiều chức vụ trọng yếu suốt ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức.
Hoàng Diệu (1828 - 1882)
Hoàng Diệu là một vị quan nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, người đã quyết tử bảo vệ thành Hà Nội khi Pháp tấn công năm 1882.Hoàng Diệu còn có tên là Hoàng Kim Tích, tự là Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai, sinh ngày 10-2-1828, trong gia đình nho học ở làng Xuân Đài, huyện Diên Phước, nay thuộc xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Nổi tiếng thơ văn từ năm 16 tuổi. Năm 20 tuổi đỗ cử nhân (1848), 26 tuổi đỗ phó bảng (1853); được bổ Tri huyện Tuy Phước, thăng Tri phủ Tuy Viễn (cùng trong tỉnh Bình Định).
Nguyễn Duy Hiệu (1847 - 1887)
Nguyễn Duy Hiệu hiệu là Hữu Thành, sinh năm Đinh Mùi (1847) ở làng Thanh Hà, huyện Diên Phước, nay là xã Cẩm Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Thuở bé thông minh, học giỏi. Đỗ tú tài năm 16 tuổi, đỗ cử nhân năm 29 tuổi, 3 năm sau đỗ phó bảng, cùng khoa với Nguyễn Đôn Tiết (Thanh Hóa), Trần Đình Phong (Nghệ An).


Chưa có bình luận ý kiến bài viết!