Võ Chí Công

Tên thật là Võ Toàn, sinh năm 1913, quê xã Tam Xuân, huyện Tam Kỳ, nay là huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Sớm giác ngộ chính trị, ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1930, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1933.

Bí thư chi bộ năm 1936; Bí thư Huyện ủy năm 1939; Bí thư Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam năm 1940; phụ trách xây dựng cơ sở cách mạng ở các tỉnh Nam Trung Bộ (1940-1942). Năm 1942, bị thực dân Pháp bắt, kết án 25 năm tù, đày đi Buôn Ma Thuột. Sau cuộc Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), ông thoát ngục trở về Quảng Nam, phụ trách Trưởng ban khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh trong Cách mạng Tháng 8-1945. Năm 1946, làm Chính trị viên trung đoàn 93, Phó ban tổ chức cán bộ Quân khu V.

Trong Đại hội Đảng bộ Liên khu V (1950), ông được bầu vào Liên khu ủy. Năm 1952, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam. Năm 1954, ra Bắc tham gia cải cách ruộng đất ở Việt Bắc.

Thời chống Mỹ, trở về hoạt động bí mật ở khu V, làm Phó bí thư Khu ủy (1955-1960); Phó bí thư Trung ương Cục miền Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Năm 1960-1975, Bí thư kiêm Chính ủy Quân khu V.

Võ Chí Công là một trong những nhà lãnh đạo thực tiễn xuất sắc trong cuộc trường chinh giải phóng dân tộc. Bản lĩnh của người lãnh đạo cao cấp thể hiện nổi bật ở sự quyết đoán, năng động và dám chịu trách nhiệm trong những thời khắc có tính chuyển biến quyết định của cách mạng và chiến tranh, tận dụng triệt để thời cơ một đi không trở lại. Như quyết định của ông về chủ trương ủng hộ mạnh mẽ cuộc khởi nghĩa Trà Bồng (miền tây Quảng Ngãi) năm 1959, trong khi nhiều đồng chí lãnh đạo chủ chốt khác còn phân vân, chần chừ; sáng suốt chuyển cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền núi thành chiến tranh du kích, lập làng chiến đấu, phát triển căn cứ địa cách mạng. Đặc biệt quyết định táo bạo và sáng suốt của ông kịp thời đề nghị với Bộ Chính trị cho đánh ngay Đà Nẵng sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, khi thấy địch có dấu hiệu bỏ Tây Nguyên, và ráo riết chỉ đạo tập trung lực lượng tấn công Đà Nẵng với một quyết tâm và khí thế khẩn cấp, góp phần to lớn vào thắng lợi của dân tộc mùa xuân 1975.

Sau ngày đất nước thống nhất, ông được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Thủy sản (1976-1977); Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp (1977-1979), Trưởng ban Cải tạo nông nghiệp miền Nam; Phó thủ tướng Chính phủ, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1976-1986); Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1987-1992). Ông được bầu Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa III, IV, V, VI, Ủy viên Bộ Chính trị các khóa IV, V, VI. Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng (6-1991 – 12-1997); Đại biểu Quốc hội các khóa VI, VII, VIII. Ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng.

Cổng TTĐT thành phố
 

Danh nhân

Chưa có bình luận ý kiến bài viết!

Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)

Cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc nhỏ tên là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Minh Viên, sinh tháng 10/1876 (Tự Đức 19) tại làng Thạnh Bình, tông Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, (nay là Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng trong một gia đình nông hào, gốc Nho học.

Một vài mẩu chuyện về cụ Huỳnh Thúc Kháng

Nguyễn Văn Thoại (1761 - 1829)

Ông quê làng Bắc Mỹ An, huyện Diên Phước, trấn Quảng Nam, nay là phường Bắc Mỹ An, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Tên thật là Nguyễn Văn Thụy, do kỵ húy mà đổi là Thoại. Thời niên thiếu, Nguyễn Văn Thoại cùng gia đình di cư vào Nam đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), sống tại làng Thới Bình, trên cù lao Dài, nay thuộc huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Niên biểu Phan Châu Trinh (1872-1924)

Ông Ích Khiêm (1831-1884)

Hiệu là Mạc Chi, sinh năm Tân Mão (1831) ở làng Phong Lệ, nay là xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Năm 16 tuổi, đỗ cử nhân thứ 14 trong 116 vị tân khoa (1847), được bổ làm việc ở nội các, rồi chuyển làm Tri huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương). Là người tài kiêm văn võ, từng làm đến Tiễu phủ sứ, nên dân địa phương thường gọi ông là "ông Tiểu Phong Lệ" và được phong tước hiệu Kiên dũng nam. Tính khí khái, cương trực, ghét thói xu phụ nên nhiều lần bị giáng chức, rồi được phục hội, lại bị giáng, lại phục hội,…

Phan Châu Trinh (1872 - 1926)

Phan Châu Trinh cùng với Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp phát động phong trào Duy Tân ở Quảng Nam với 3 mục tiêu: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.

Nguyễn Tri Phương (1800 - 1873)

Tên thật là Nguyễn Văn Chương, quê làng Đường Long, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, còn tên Nguyễn Tri Phương do vua Tự Đức cải tên (1850), hàm ý nói về con người nghĩa dũng, nhiều mưu chước. Từ đó, Nguyễn Tri Phương trở thành tên chính của ông. Xuất thân trong một gia đình nông dân, không được qua trường lớp, nhưng nhờ trí thông minh và ý chí tự học, tự lập cao, đã làm nên sự nghiệp lớn. Bắt đầu từ chân thơ lại ở cấp huyện, do tài năng mà được tiến cử lên triều đình Minh Mạng, được thu dụng và lần lượt giữ nhiều chức vụ trọng yếu suốt ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức.

Ông Ích Đường (1890-1908)

Ông sinh tại làng Phong Lệ, xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc Phường Hoà Thọ, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng).Ông là cháu nội danh tướng Ông Ích Khiêm. Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, thì Ông Ích Đường là người giỏi văn võ, có chí lớn, có tính phóng khoáng, có đức độ bậc trượng phu, thường binh vực kẻ nghèo yếu, chống lại bọn cường hào ác bá.

Hoàng Diệu (1828 - 1882)

Hoàng Diệu là một vị quan nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, người đã quyết tử bảo vệ thành Hà Nội khi Pháp tấn công năm 1882.Hoàng Diệu còn có tên là Hoàng Kim Tích, tự là Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai, sinh ngày 10-2-1828, trong gia đình nho học ở làng Xuân Đài, huyện Diên Phước, nay thuộc xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Nổi tiếng thơ văn từ năm 16 tuổi. Năm 20 tuổi đỗ cử nhân (1848), 26 tuổi đỗ phó bảng (1853); được bổ Tri huyện Tuy Phước, thăng Tri phủ Tuy Viễn (cùng trong tỉnh Bình Định).

Nguyễn Duy Hiệu (1847 - 1887)

Nguyễn Duy Hiệu hiệu là Hữu Thành, sinh năm Đinh Mùi (1847) ở làng Thanh Hà, huyện Diên Phước, nay là xã Cẩm Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Thuở bé thông minh, học giỏi. Đỗ tú tài năm 16 tuổi, đỗ cử nhân năm 29 tuổi, 3 năm sau đỗ phó bảng, cùng khoa với Nguyễn Đôn Tiết (Thanh Hóa), Trần Đình Phong (Nghệ An).

Asset Publisher

Navigation Menu

Navigation Menu

LIÊN KẾT WEBSITE

Navigation Menu

Navigation Menu

Navigation Menu