Một đời phụng sự, một “Tiếng Dân” còn vang
“Nếu không có quyền nói thì ít ra cũng giữ được cái quyền không nói những điều người ta buộc nói”. Đây là tuyên bố nổi tiếng của cụ Huỳnh Thúc Kháng khi làm chủ bút tờ báo Tiếng Dân, khẳng định rõ quyền được tự do suy nghĩ và giữ trọn khí tiết, phẩm giá của chí sĩ trọn đời vì nước, vì dân.
Sau 13 năm bị thực dân Pháp giam cầm tại Côn Đảo, năm 1921, cụ Huỳnh Thúc Kháng được trả tự do, trở về quê hương tiếp tục các hoạt động yêu nước. Từ nghị trường đến báo chí, cụ Huỳnh kiên trì lên tiếng vì dân quyền, dân sinh và lợi ích dân tộc, để rồi 16 năm hoạt động của tờ báo “Tiếng Dân” trở thành dấu ấn đặc biệt trong cuộc đời phụng sự của Huỳnh Thúc Kháng.
Đưa tiếng nói của Nhân dân ra nghị trường
Từ năm 1921 đến 1943, trên cương vị Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ và Chủ nhiệm, chủ bút báo Tiếng Dân, cụ Huỳnh Thúc Kháng tích cực đấu tranh đòi dân quyền, dân sinh, cải cách chính trị và bảo vệ lợi ích dân tộc.
Cụ Huỳnh sử dụng nghị trường làm diễn đàn công khai để nêu những vấn đề của Nhân dân, yêu cầu chính quyền thực dân thay đổi chính sách cai trị. Cụ và các dân biểu tiến bộ đề xuất ban hành hiến pháp, mở rộng quyền tự do, dân chủ, bảo vệ quyền lợi Nhân dân; đồng thời phản đối những chính sách kinh tế, xã hội bất hợp lý của chính quyền thực dân và Nam triều.
Về “lập hiến”, cụ đề xuất phân định quyền hạn giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp; mở rộng quyền hạn của Viện Dân biểu; trao quyền bầu cử cho người đóng thuế; xây dựng Thượng viện và Hạ viện.
Dù vẫn nằm trong khuôn khổ chế độ bảo hộ, những đề xuất ấy cho thấy yêu cầu cải tổ cơ cấu cai trị và mở rộng quyền tham gia chính trị của người dân. Nhận rõ những giới hạn của Viện Dân biểu và sự can thiệp của chính quyền thực dân, cụ từ chức năm 1928.
Hoạt động nghị trường của cụ Huỳnh Thúc Kháng thể hiện tinh thần đấu tranh công khai, thẳng thắn và ý thức bảo vệ quyền lợi Nhân dân. Nhưng rời nghị trường không có nghĩa là cụ ngừng lên tiếng. Báo chí trở thành một diễn đàn khác để cụ tiếp tục thực hiện mục tiêu ấy.
Ngày 10-8-1927, Tiếng Dân ra số đầu tiên, do cụ làm Chủ nhiệm kiêm chủ bút. Tờ báo tồn tại liên tục 16 năm, từ năm 1927 đến năm 1943, với 1.766 số.
Ngay từ đầu, Tiếng Dân xác lập tôn chỉ cải cách, không xu phụ nhà cầm quyền và giữ tiếng nói độc lập. Báo tập trung phản ánh những vấn đề bức thiết của đời sống xã hội, nhất là tình trạng áp bức, bóc lột, thuế khóa, kinh tế, xã hội và những bất công đối với Nhân dân.
Cụ Huỳnh Thúc Kháng yêu cầu thông tin phải được điều tra, xác minh; sai thì sửa, nhưng những vấn đề đã được kiểm chứng thì dù chịu sức ép vẫn kiên quyết đăng.
Giữ một “Tiếng Dân” độc lập giữa vòng kiểm soát
Hoạt động của Tiếng Dân bị mật thám Pháp theo dõi chặt chẽ. Các báo cáo của chúng cho rằng báo chí tiếng Việt ở Trung Kỳ ngày càng có hoạt động tuyên truyền rộng, trong đó Tiếng Dân thường đăng bài chống chế độ nhà lao, chính quyền địa phương và có những bài mang khuynh hướng Mácxít.
Tuy nhiên, Tiếng Dân không phải cơ quan ngôn luận của một tổ chức cách mạng mà chủ yếu theo đường lối cải cách, phê phán những chính sách gây thiệt hại cho Nhân dân và yêu cầu thay đổi bằng phương pháp ôn hòa trong giới hạn của trật tự hiện hành. Vì vậy, tờ báo vừa duy trì tiếng nói độc lập, vừa thường xuyên chịu sự kiểm soát của chính quyền thực dân.
Tiếng Dân cũng phải chịu chế độ kiểm duyệt nghiêm ngặt: mỗi số báo phải nộp bản Quốc ngữ và bản dịch tiếng Pháp cho Phủ Khâm sứ Trung Kỳ trước khi xuất bản. Đào Duy Anh từng hỗ trợ cụ Huỳnh Thúc Kháng dịch báo sang tiếng Pháp.
Có những bài biết chắc sẽ bị cắt nhưng cụ vẫn đưa kiểm duyệt, phần bị cắt được để trống trên mặt báo để độc giả nhận biết sự can thiệp của nhà cầm quyền. Điều đó cho thấy cụ chủ trương giữ tiếng nói độc lập, không biến sự kiểm duyệt của chính quyền thành sự tự kiểm duyệt của người làm báo.
Cụ tuyên bố: “Nếu không có quyền nói thì ít ra cũng giữ được cái quyền không nói những điều người ta buộc nói”. Đây cũng là lời khẳng định về quyền tự do thiêng liêng của con người mà không ai có thể xâm phạm được, đó là quyền được tự do suy nghĩ và giữ tròn khí tiết, phẩm giá của mình.
Trong những năm hoạt động, Tiếng Dân nhiều lần trở thành nơi chuyển tải tiếng nói của những người bị áp bức. Năm 1933, khi thực dân Pháp lập nhà đày Buôn Ma Thuột, các tù chính trị bí mật gửi bài cho báo chí để tố cáo chế độ tù đày. Tiếng Dân đăng những bài viết này, tạo điều kiện để tiếng nói của người bị đàn áp đến với dư luận.
Trong thời kỳ vận động dân chủ 1936 - 1939, báo tiếp tục phản ánh, cổ vũ các yêu cầu về dân sinh, dân chủ; đăng bài của những nhân vật tiến bộ, trong đó có nữ nhà báo, nhà văn Pháp A. Viôlít, phê phán chế độ cai trị và tình trạng nhân dân Đông Dương bị áp bức, bóc lột.
Ngày 14-9-1936, cụ Huỳnh Thúc Kháng công bố trên Tiếng Dân thư trả lời Ban Thường trực Dân nguyện Trung Kỳ, nêu thực trạng của nhân dân Trung Kỳ và các yêu cầu về chính thể, dân quyền, bầu cử, Thượng viện, Hạ viện, học vụ, y tế, báo giới, nông dân, lao động, tài chính, kinh tế và quan lại.
Bản thỉnh cầu hoàn chỉnh tháng 9-1936 thể hiện những nguyện vọng và quyền lợi thiết thực của đông đảo Nhân dân, đưa Tiếng Dân trở thành một diễn đàn quan trọng của phong trào vận động dân chủ.
Từ tháng 7-1938, trước tranh chấp Hoàng Sa giữa Pháp và Nhật, Tiếng Dân đăng loạt bài của Sử Bình Tử, tức cụ Huỳnh Thúc Kháng, khẳng định Hoàng Sa thuộc nước Nam. Cụ viện dẫn các tư liệu lịch sử về đội Hoàng Sa, hoạt động khai thác hải vật của người Việt và đặc biệt là Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn.
Việc đưa vấn đề Hoàng Sa lên báo thể hiện rõ ý thức bảo vệ chủ quyền và trách nhiệm đối với lãnh thổ quốc gia.
Năm 1939, cụ Huỳnh Thúc Kháng xuất bản Thi tù tùng thoại, tập hợp thơ, ghi chép và suy ngẫm viết bằng chữ Hán trong thời gian ở Côn Đảo, sau được cụ chép lại và dịch ra tiếng Việt. Tác phẩm chứa nhiều tư liệu về xã hội và các phong trào yêu nước, cách mạng đầu thế kỷ XX, đặc biệt là Đông du và Duy tân, có giá trị cả về văn học lẫn lịch sử.
Đầu những năm 1940, Tiếng Dân tiếp tục phản ánh tình hình quốc tế, Chiến tranh thế giới thứ hai và những tác động đối với Đông Dương. Lo ngại về ảnh hưởng của Tiếng Dân và những hoạt động chính trị của cụ Huỳnh Thúc Kháng, thực dân Pháp đã đình bản Tiếng Dân ngày 24-4-1943.
Cụ Huỳnh Thúc Kháng viết bài thơ Tiếng Dân bị đình bản ngày 24-4-1943 để ghi lại tâm trạng trước sự kiện này. Sau 16 năm hoạt động, báo đã xuất bản 1.766 số, vượt xa mong muốn ban đầu của cụ: “dầu ra được 5, 7 số mà chết cũng vui lòng”.
Có thể nói, từ nghị trường đến báo chí, cụ Huỳnh Thúc Kháng nhất quán theo đuổi mục tiêu bảo vệ quyền lợi Nhân dân, đấu tranh cho dân quyền, dân sinh và cải cách xã hội. Nếu Viện Dân biểu là nơi cụ công khai chất vấn và yêu cầu nhà cầm quyền thay đổi chính sách thì Tiếng Dân là diễn đàn để phản ánh đời sống, tố cáo bất công, bảo vệ người bị áp bức và khẳng định những vấn đề thuộc lợi ích dân tộc.
Qua hoạt động nghị trường, báo chí và trước tác, cụ Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục khẳng định bản lĩnh của một chí sĩ yêu nước, một trí thức có trách nhiệm và một nhà báo kiên định trước sự kiểm soát của chính quyền thực dân. Tiếng Dân đã dừng lại, nhưng tiếng nói vì Nhân dân, vì dân tộc mà cụ gửi gắm qua từng trang báo vẫn còn vang.
THANH NGUYÊN
Sở Công Thương tiếp nhận nhiệm vụ quản lý nhà nước về khoáng sản, địa chất
Chiều 16-9, UBND thành phố tổ chức Hội nghị công bố các quyết định về tổ chức bộ máy và công tác cán bộ. Phó Chủ tịch UBND thành phố Phan Thái Bình dự và trao quyết định.
Khởi công dự án nhà ở xã hội gần 490 tỷ đồng tại Hòa Xuân
Sáng 16-9, tại phường Hòa Xuân, UBND thành phố phối hợp Công ty TNHH Trainco Bình Định tổ chức Lễ khởi công Dự án Nhà ở xã hội Lê Kim Lăng. Đến dự có Phó Bí thư Thành ủy Ngô Xuân Thắng và Phó Chủ tịch UBND thành phố Lê Quang Nam.
Tập trung giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án
Sáng 11-9, Phó Chủ tịch UBND thành phố Trần Nam Hưng chủ trì buổi làm việc với Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng các công trình giao thông và nông nghiệp Đà Nẵng (Ban quản lý) về tình hình giải ngân kế hoạch vốn năm 2026, các dự án trọng điểm, công trình cầu đã xây dựng nhưng chưa hoàn thành đường dẫn kết nối.
Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Mạnh Hùng làm việc với Tập đoàn WHA về đầu tư khu công nghiệp 400 ha
Chiều 09-9, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Mạnh Hùng chủ trì buổi làm việc với ông Pajongwit Pongsivapai, Tổng Giám đốc Tập đoàn WHA và đoàn công tác đến nghiên cứu đầu tư một số dự án trên địa bàn thành phố.
Tập trung khắc phục ùn tắc tại nút giao Quốc lộ 14B
Ngày 21-9, Phòng Cảnh sát giao thông (CSGT) Công an thành phố tổ chức Hội nghị đánh giá hiện trạng an toàn giao thông tại khu vực nút giao Quốc lộ 14B - cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi - đường tránh Nam hầm Hải Vân; đồng thời trao đổi, thống nhất các giải pháp khắc phục những bất cập trong thời gian tới.
Nhà đầu tư khẩn trương bổ sung hồ sơ các dự án được tháo gỡ khó khăn, vướng mắc
Chậm nhất ngày 15-9-2026, các nhà đầu tư phải rà soát, báo cáo và cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu liên quan đến các dự án đầu tư thuộc diện tháo gỡ khó khăn, vướng mắc theo Nghị quyết số 29/2026/QH16 và Nghị định số 147/2026/NĐ-CP, theo đề nghị của Sở Tài chính tại Công văn số 12749/STC-KTTN ngày 14-9.
Tăng năng lực thoát nước, giảm ngập úng tại khu vực đô thị
Từ nạo vét từng cửa thu, khơi thông từng tuyến cống đến nâng cấp trạm bơm, hồ điều tiết và triển khai các dự án chống ngập quy mô lớn, Đà Nẵng đang từng bước tăng năng lực tiêu thoát nước đô thị.
Bàn giao chức vụ Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố
Chiều 21-9, Ban Thường vụ Đảng ủy Quân khu 5 phối hợp với Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng tổ chức Hội nghị bàn giao chức trách, nhiệm vụ Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự (CHQS) thành phố giữa Đại tá Trần Hữu Ích và Đại tá Nguyễn Thế Vinh.
Thông tin báo chí sáng 11-9-2026
Từ 11h00 ngày 10 đến 6h00 ngày 11-9, có khoảng 176 tin, bài viết về thành phố Đà Nẵng.
Từ trụ sở dôi dư đến những phòng học, khu vui chơi mới
Từ yêu cầu “không chậm trễ, không lãng phí” của lãnh đạo thành phố, nhiều trụ sở cũ tại Đà Nẵng đang được chuyển đổi thành phòng học, thư viện, khu STEM, sân thể thao…, đưa tài sản công dôi dư sau sắp xếp trở lại phục vụ Nhân dân.


Chưa có bình luận ý kiến bài viết!