Giới thiệu Địa danh Quảng Nam – Đà Nẵng
Phần địa danh này được trích từ sách Địa chí Quảng Nam – Đà Nẵng, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản năm 2010, do tác giả Thạch Phương và Nguyễn Đình An chủ biên với sự tham gia biên soạn của các tác giả: Bùi Chí Hoàng, Hoàng Châu Ký, Hồ Hải Học, Lâm Quang Huyên, Lê Khôi, Lê Trí Viễn, Mai Phước Ngọc, Nguyễn Đình An, Nguyễn Phúc, Nguyễn Phước Tương, Nguyễn Thanh Lợi, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Văn Xuân, Phan Văn Hường, Thạch Phương, Trần Nam Tiến, Trần Viết Ngạc, Võ Văn Thắng.
Cổng TTĐT thành phố
Đánh giá bài viết:
Địa danh
"Cảm ơn bạn đã bình luận!"
Quảng Nam Đà Nẵng qua các địa danh (phần 16)
Tam Kỳ: Phủ được đổi tên từ phủ Hà Đông, năm Thành Thái thứ 18 (1906). Ly sở phủ Hà Đông đóng tại Chiên Đàn cũng được rời về sát sông Ba Kỳ. Phủ Tam Kỳ tồn tại cho đến ngày 25/3/1948 theo Sắc lệnh số 148 – Sl của Chính phủ về đổi phủ, châu, quận thành huyện.
Quảng Nam Đà Nẵng qua các địa danh (phần 8)
Hà Đông: Huyện trong 3 huyện của phủ Thăng Hoa, trấn Quảng Nam từ thời Hồng Đức. Theo địa bạ Gia Long, huyện Hà Đông gồm 4 tổng, 135 làng, 2 thuộc.
Quảng Nam Đà Nẵng qua các địa danh (phần 5)
Đá Mái: Đèo dài khoảng 4km, ranh giới giữa hai huyện Duy Xuyên và Quế Sơn. Thời kháng chiến chống Mỹ khi Quảng Nam chia thành hai tỉnh Quảng Tín (ở phía Nam) và Quảng Đà (ở phía Bắc) nơi đây trở thành ranh giới của hai tỉnh.
Quảng Nam Đà Nẵng qua các địa danh (phần 13)
Núi Thành: Cụm đồi trọc có độ cao từ 45 – 50 m, nằm ở phía tây căn cứ quân sự Chu Lai 4 km, cách bờ biển 6km, thuộc xã Tam Nghĩa, huyện Tam Kỳ, nay là huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Quảng Nam Đà Nẵng qua các địa danh (phần 11)
Nà Lầu: Triền đồi thuộc thôn 10, xã Tiên Thọ, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Vào năm 1885, khi Nguyễn Duy Hiệu đặt bản doanh của Nghĩa hội Quảng Nam tại đây, cho xây một vọng gác ở trên cao để quan sát từ xa mà dân địa phương gọi là "lầu". Nơi đây từng xảy ra nhiều cuộc đụng độ giữa quân triều đình và lực lượng nghĩa quân thời Cần Vương.


Chưa có bình luận ý kiến bài viết!