K20 trong hồi ức của các Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân
Đăng ngày 30-04-2021 10:11

Tháng tư về, hình ảnh của những năm tháng sống và chiến đấu giữa lòng địch lại sống lại trong tâm trí những Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vùng K20.

Giữa những ngày tháng tư lịch sử, chúng tôi có dịp về thăm Khu căn cứ cách mạng K20 (phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn). Trong dòng hồi tưởng, Thiếu tá Trần Ngọc Trung – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân bồi hồi kể lại trận đánh vào khuya ngày 4, rạng sáng ngày 5-5-1968 do ông chỉ huy trực tiếp.

Thời kháng chiến, khu K20 gồm 4 xóm: Nước Mặn, Mỹ Thị, Bà Đa, Đa Phước. “Địa hình K20 rất phức tạp nhưng cũng rất an toàn. Ngày đó, các anh em hay nói “Chỗ nào địch canh phòng nghiêm ngặt nhất thì đó là chỗ sơ hở nhất của địch”. Đứng trong lũy tre của vùng K20 nhìn ra thì thấy mồn một, nhưng ở ngoài nhìn vào thì không thấy gì nên rất thuận lợi cho cán bộ, nhân dân ta họp hành, hoạt động. Ban ngày nếu không có địch thì cán bộ ta đi từ nhà này sang nhà kia rất bình thường, nhưng có địch thì cán bộ sẽ xuống hầm trú ẩn. Đó là yếu tố rất thuận lợi cho cán bộ, quân và dân ta”, ông Trung nhớ lại.

Ngày đó, địch xây dựng cơ quan đầu não tại Đà Nẵng là Chi khu cảnh sát Đông Giang. Từ đây, chúng chỉ huy binh lính chúng phá phong trào cách mạng của ta, đánh phá, bắt bớ, giam cầm các em giao liên, bộ đội khiến cho hoạt động cách mạng của quân ta trong nội thành bị tê liệt. Để phá thế kìm kẹp, tạo thuận lợi cho bộ đội ta, tháng 5-1968, Đặc khu ủy Quảng Đà giao cho Quận đội Quận 3 chỉ đạo, dùng quân đánh vào thành phố, quyết phá Chi khu cảnh sát Đông Giang.

Nhận lệnh từ cấp trên, khuya ngày 4, rạng sáng ngày 5-5-1968, từ căn cứ K20, ông Trung trực tiếp chỉ huy quân đội đánh vào thành phố. Kết quả đã diệt được 14 tên địch của Trung đội địa phương quân và 32 tên địch của Chi khu cảnh sát Đông Giang. Quân ta toàn thắng, không có đồng chí nào bị thương, rút quân từ thành phố về K20 một cách an toàn.

“Trận đó khá là khó vì khi quân đội ta đánh thẳng vào thành phố nếu thắng thì không sao. Nhưng, nếu thua thì một là hy sinh trên đường phố, hai là bị thương rồi bị địch bắt chứ không có đường rút lui", ông Trung kể.

Xóm Nước Mặn trong khu K20 chỉ có trên dưới 50 nóc nhà nhưng có đến hơn 150 căn hầm bí mật. Những căn hầm đó đó được tự vệ, biệt động, đoàn thanh niên đào để nuôi giấu cán bộ, bộ đội ta. Từ ngoài sân, ngoài vườn, đến dưới bàn thờ gia tiên, nơi nào người dân hiến đất thì đoàn đào hầm ở đó. Thậm chí ở ngoài bờ ao, ruộng lúa, bụi tre cũng có hầm trú ẩn của bộ đội ta.

Ông Trung hồi tưởng: “Những hôm địch không đi càn thì cán bộ, bộ đội dưới hầm lên ăn cơm cùng bà con trong làng, tình quân dân ấm áp lắm. Ngược lại những hôm có địch thì bà con nấu cơm, nấu nước mang xuống hầm cho bộ đội. Ở ngoài ruộng, bụi tre thì tự vệ, biệt động, du kích, đoàn thanh niên cùng phụ nữ nấu cơm, mang cơm cho bộ đội”.

Trong trí nhớ của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Huỳnh Thị Thơ vẫn còn in sâu hình ảnh bà cùng đồng đội xắn quần, lội ruộng đem cơm cho cán bộ dưới hầm: “Muốn đem cơm cho bộ đội ở ngoài bờ ruộng, bụi tre thì mình phải ngụy trang. Người thì ở ngoài ruộng giả chăn trâu để theo dõi động tĩnh của địch, người thì về nấu cơm, gánh ra cho cán bộ. Một ngày đem 2 bữa, bữa trưa và bữa chiều. Tối đến thì mang lương khô xuống hầm để bộ đội ăn sáng”.

Hình ảnh những mẹ, những chị, những em ở K20 vẫn luôn còn nguyên trong tâm trí của những Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Bà Thơ trải lòng, ngày ấy, những bạn gái ở độ tuổi trăng tròn, 13 đến 16 tuổi đều hăng hái nhận nhiệm vụ ban đêm đi đào hầm. Những người lớn hơn thì bơi qua sông, mang súng đạn, vũ khí về cho bộ đội ta, sẵn sàng chiến đấu.

Trong trí nhớ của ông Trung, dù có những mảng ký ức đã bị mờ nhạt do tuổi đã cao, song hình ảnh Cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trong ngày giải phóng thì vẫn luôn hiện rõ mồn một.

Nhấp ngụm trà nóng, ông bồi hồi kể, tối ngày 28-3-1975, thông tin đưa từ vùng giáp ranh về cơ sở là quân ta đã áp vào thành phố. Quận ủy, quận đội vận động nhân dân sáng ngày 29-3 khởi nghĩa cướp chính quyền, cướp sân bay Nước Mặn, chiếm đồn bốt của địch.

Đến khoảng 9 giờ sáng, Cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cắm ngay trung tâm của nóc nhà cao nhất sân bay Nước Mặn. Đúng 11 giờ 30 phút, Tòa thị chính cũng cắm cờ của quân đội ta, thành phố Đà Nẵng hoàn toàn giải phóng.

Còn với bà Thơ, những giọt nước mắt hạnh phúc đã lăn trên gò má sạm đen khi nhắc đến khoảnh khắc thành phố được giải phóng hoàn toàn: “Mừng lắm chứ con. Nghe nói giải phóng thì dân mình được ấm no hạnh phúc, đi lại tự do. Mình cũng được tự do, không sợ bị ai kìm kẹp. Mừng lắm con”.

Ngày đất nước hòa bình, những người lính trở về từ chiến trường vẫn nuôi tâm nguyện tìm và đưa đồng đội về quê mẹ sau gần nửa thế kỷ nước nhà thống nhất.

Trải qua những ngày tháng gian khổ, khó khăn nhất của đất nước, đôi mắt của họ vẫn đỏ hoe khi nhắc về đồng đội. Bà Thơ nhớ lại, khoảng năm 2015, trong chuyến đi Phú Quốc, bà cùng các đồng đội vào tham quan một khu nhà tù. Như có linh tính mách bảo, bức hình đầu tiên bà Thơ nhìn thấy chính là bức hình của đồng đội mình – liệt sĩ Trần Viết Đoan (tên thật là Lữ).

“Lúc đó tôi ôm tấm ảnh của anh Lữ và kêu to “Ô trời, anh Lữ nề” rồi chỉ biết khóc”, bà Thơ xúc động nói. Sau này, gia đình của liệt sĩ Trần Viết Đoan đã ra Phú Quốc đưa hài cốt anh về yên nghỉ tại quê hương.

Nhưng đó chỉ là một trong rất ít các liệt sĩ được tìm thấy. Những người lính K20 ngày ấy còn sống sót vẫn không ngừng đi tìm những đồng đội của mình

Tâm sự với chúng tôi, bà Thơ cho biết Ban liên lạc truyền thống K20 vẫn nuôi ước nguyện sẽ tìm được mộ, tìm được hài cốt để đưa các anh về với gia đình và đồng đội sau hàng chục năm lưu lạc.

NỘI DUNG: THANH THẢO

HÌNH ẢNH: ANH THƯ

ĐỒ HỌA: HỒNG QUÂN

ĐÁNH GIÁ BÀI VIẾT