Di tích chiến thắng Thượng Đức (7-8-1974)

Tượng đài chiến thắng Thượng Đức
Do nằm ở vị trí chiến lược quan trọng, Thượng Đức trở thành mục tiêu cần phải tiêu diệt để mở đường tiến xuống miền đồng bằng Đại Lộc, Hòa Vang, Điện Bàn, uy hiếp sân bay Đà Nẵng.
Cuối tháng 5-1974, thiếu tướng Lê Công Phê - sư đoàn trưởng Sư đoàn 304 thuộc Quân đoàn 2 đang ở Quảng Trị- nhận được lệnh hành quân vào chiến trường khu V theo đường rừng dài 400km. Đến nơi, lại nhận được lệnh của Tư lệnh Quân khu V Chu Huy Mân:”Chiến dịch này phải thắng cả quân sự lẫn chính trị. Quân sự là diệt gọn địch. Chính trị là giải phóng hơn một vạn dân trong khu dồn”. Chiến dịch mang mật danh K711.
Đúng 5 giờ sáng ngày 29-7-1974, hai phát pháo hiệu trùm lên căn cứ Thượng Đức. Tuy được chuẩn bị rất công phu, với hỏa lực áp đảo ngay từ đầu, ta chỉ tiêu diệt và bắt sống quân địch ở vòng ngoài. Vì vậy địch phản kích dữ dội, gây cho ta nhiều thương vong. Cuộc chiến đấu phải tạm dừng lại.
Được tin báo Thượng Đức đang gặp phải khó khăn, Tư lệnh quân khu Chu Huy Mân cử Phó tư lệnh quân khu, tướng Nguyễn Chánh đang trực chiến tại Bộ Tư lệnh chiến dịch Nông Sơn - Trung Phước đến ngay mặt trận Thượng Đức, cùng với các tướng Trần Bình, Chính ủy sư đoàn 304, tướng Hoàng Đan, Tư lệnh phó Quân đoàn 2, tướng Lê Công Phê, sư đoàn trưởng Sư đoàn 304, tướng Phan Hàm, đặc phái viên của Bộ Tổng tham mưu bàn kế hoạch tác chiến mới nhằm bảo đảm dứt điểm mục tiêu.
Rạng sáng ngày 7-8-1974, chờ cho lớp sương mù dày đặc như mây trên các sườn núi vừa tan, đưa ống nhòm có thể nhìn thấy rõ từng người lính và công sự địch, thì các khẩu pháo bắn thẳng từ trên đồi nhả đạn tới tấp vào công sự cố thủ của chúng. Sức công phá và sức nóng như thiêu đốt của đạn pháo gây nên nỗi kinh hoàng chưa từng có trong quân địch. Nhiều tên la hét hoảng loạn, tuồn chạy về phía đông, nhảy xuống nước. Hàng trăm tên lính địch tháo chạy đã bị bắt. Đến 8 giờ 15 phút sáng ngày 7-8-1974 “cánh cửa thép” đã bị mở toang, căn cứ Thượng Đức hoàn toàn sụp đổ. Lá cờ chiến thắng của quân cách mạng đã tung bay trên nóc hầm công sự Thượng Đức sụp đổ.
Tướng Ngô Quang Trưởng từ Đà Nẵng kêu gào “tử thủ giữ lấy Thượng Đức”, vào lúc 10 giờ sáng, biết Thượng Đức đã bị thất thủ, liền cho hai chiếc A37 đến ném bom hủy diệt Thượng Đức. 13.000 đồng bào bị tập trung vào chi khu đã được giải phóng để trở về với làng quê, ruộng đồng của mình.
Tướng Hoàng Đan, người tham gia chỉ huy trận đánh nói: “Đây là một trận đánh lớn, ta phải đổ xương máu, mồ hôi, công sức, tiền của rất nhiều. Cái giá thật “chẳng rẻ” chút nào. Nhưng bằng trí và lực, bằng mồ hôi và xương máu của quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng, của cán bộ và chiến sĩ Quân đoàn 2, mà trực tiếp là sư đoàn 304, chúng ta có thể kết luận rằng chủ lực ta đủ sức đè bẹp đối phương, và như thế quân đội ta có thể mở những trận đánh lớn, tổng tiến công giành thắng lợi cuối cùng”.
Bí thư Khu ủy V Võ Chí Công nhận xét: “Chiến thắng Thượng Đức không chỉ phá tan “cánh cửa thép” bảo vệ vòng ngoài Đà Nẵng, mà còn có ý nghĩa chiến lược quan trọng vào thời gian này. Từ thực tiễn đó đã góp phần cho Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương có những nhận định mới, đề ra những quyết sách đúng đắn và quyết định trong chiến lược Tổng tấn công và nổi dậy vào mùa xuân lịch sử năm 1975”.
Sau ngày giải phóng, một tượng đài Chiến thắng Thượng Đức được xây dựng tại nơi đây.
Đình Nại Nam
Đình làng Nại Nam nay ở khối phố Nam Sơn, phường Hòa Cường, quận Hải Châu. Đình được xây dựng năm ất Tỵ (1905) từ công sức đóng góp của dân địa phương, thờ Thành hoàng bảo an chính trực, bổn xứ thổ thần và các vị tiền nhân của làng.
Di tích Đà Nẵng - những trang sử tuyệt đẹp
Như bao địa phương khác, Đà Nẵng đã trải qua bao thăng trầm trên con đường phát triển của mình. Những di tích còn lại là chứng tích cho một quá khứ vươn lên kiên cường, không mệt mỏi của mảnh đất này.
Vết tích những nấm mồ quân xâm lược ở Đà Nẵng giữa thế ký XIX hiện còn lưu lại
Những phát đại bác đầu tiên của liên quân Pháp - Tây Ban Nha bắn vào các pháo đài phòng thủ của quân Việt Nam ở Đà Nẵng vào sáng ngày 1-9-1858, mở đầu cuộc xâm chiếm nước ta. Bọn xâm lược đã gặp phải sức kháng cự quyết liệt của quân và dân ta. Cho đến hết năm 1858, chúng vẫn không sao thực hiện được mục đích mở rộng địa bàn chiếm đóng, phá vỡ thế phòng thủ của ta, nhằm tạo một bước ngoặt cho cuộc chiến tranh. Tướng chỉ huy quân liên quân lúc bấy giờ là Đô đốc Rigault de Genouilly bèn quyết định chuyển hướng tiến công vào Gia Định. Đầu tháng 2-1859, chúng chỉ để lại ở Đà Nẵng một đại đội lính và vài chiến hạm, số quân còn lại được chuyển vào đánh chiếm Gia Định.
Trận đánh Pháp đầu tiên trên đèo Hải Vân (28-2-1886)
Theo lệnh của De Courcy, Tổng tư lệnh binh đoàn viễn chinh Pháp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, tướng Prud’homme đóng tại Huế đã cấp tốc điều động đội công binh mở nhanh con đường chiến lược Huế – Đà Nẵng, mà đặc biệt là đoạn đường qua đèo Hải Vân.
Thành Điện Hải
Thành Điện Hải trước là đồn Điện Hải, xây dựng năm 1813 (Gia Long thứ 12) gần cửa biển Đà Nẵng. Năm 1823 (Minh Mạng thứ 4) cho dời đồn Điện Hải vào bên trong đất liền, trên một gò đất cao. Đồn được xây bằng gạch.


Chưa có bình luận ý kiến bài viết!