Quá trình hình thành làng xã và sự ra đời đình làng Đà Nẵng

Xã hội Đại Việt thời Lê sơ sau một giai đoạn phát triển thời Lê Thánh Tông, đến thế kỷ XVI đã bắt đầu suy nhược và trượt dài trên đường khủng hoảng. Lúc này các thế lực phong kiến đã nổi dậy tranh giành quyền lực, cát cứ. Trong bối cảnh rối ren đó, Đoan quận công Nguyễn Hoàng được sự “định hướng” của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, năm 1558, được ban “ấn tiết” dẫn tuỳ tùng vào trấn thủ Thuận Hoá đến năm 1570 thì quản luôn cả trấn Quảng Nam, đã thoát đuợc vòng kiềm toả của họ Trịnh, của chính quyền Lê -Trịnh.

         Với ý định xây dựng riêng cho mình một cõi giang sơn tách biệt và đối trọng với chính quyền Lê -Trịnh, các chúa Nguyễn đã tích cực thực hiện và đẩy mạnh các biện pháp chiêu dụ nhân dân khai khẩn đất đai vùng Thuận Quảng, đồng thời, không ngừng mở rộng cương thổ xuống phía Nam… Hệ quả tất yếu là lãnh thổ xứ Đàng Trong được kéo dài đến tận Cà Mau, các vùng đất được xác lập quyền sở hữu của Đại Việt từ trước không ngừng được mở rộng và thành lập mới. Đất Đà Nẵng cũng tiếp tục được mở rộng và phát triển các làng xã trong bối cảnh lịch sử, xã hội chung ấy.

       Đà Nẵng, đến năm 1604, không còn là đất của huyện Điện Bàn, phủ Triệu Phong- Thuận Hoá nữa mà thuộc huyện Hoà Vang, phủ Điện Bàn- Quảng Nam. Các vùng đất trống trước đó, chủ yếu ở phía tây- nam (thuộc địa bàn Liên Chiểu, Hoà Vang ngày nay) gần như đã được lấp đầy bởi sự khai khẩn của người Việt, do nhu cầu phát triển mở rộng của các làng xã đã được xác lập từ trước. Hàng loạt các làng xã mới được hình thành ở Đà Nẵng trong hơn 200 năm cai trị của 9 đời chúa Nguyễn.

       Đến cuối thế kỷ XVIII, quá trình khai khẩn lập làng ở Đà Nẵng cơ bản đã được xác lập ổn định cho đến hôm nay. Về thời gian sau, các đợt di dân của người Việt đến Đà Nẵng, cùng với sự phát triển tự thân, nhiều làng xã phải tiến hành chia tách hình thành nên các làng mới ở vào đời nhà Nguyễn (1802-1945). Song song với việc lo ổn định và phát triển đời sống vật chất, đã hình thành các yếu tố giá trị, sắc thái văn hoá tinh thần của cộng đồng dân cư cũng từng bước hình thành phát triển.

       Các sản phẩm văn hoá trên đất Đà Nẵng mà chúng ta được thừa hưởng hôm nay, từ bao thế hệ tiền nhân để lại, là kết quả của những quá trình như thế , trong đó có ngôi đình làng.

     Đình làng Đà Nẵng, là một sản phẩm văn hoá được kế thừa do các đoàn người Việt mang theo trong diễn trình mở nước xuống phía Nam của dân tộc. Điều đó đồng nghĩa với việc đi tìm mốc khởi đầu cho đình làng Đà Nẵng không thể thoát ra ngoài bối cảnh và lịch sử sự hình thành đình làng miền Bắc và xác lập làng Việt trên đất Đà Nẵng.

      Nhiều đình ở Đà Nẵng hiện nay còn lưu giữ nhiều sắc phong của các vua Nguyễn từ Minh Mạng đến Bảo Đại, trong có một số từ đầu đời Minh Mạng (1820- 1840) như ở đình làng Tuý Loan có sắc Minh Mạng thứ 7 1826), đình Phú Hạ có sắc Minh Mạng thứ 3 (1822) và Đại La có sắc Minh Mạng thứ 2 (1821)…

      Theo tài liệu sớm nhất cho biết sự xuất hiện đình làng Đà Nẵng là khoán ước của làng Phước Sơn (nay là đình Phước Thuận thuộc xã Hoà Nhơn, huyện Hoà Vang). Bản khoán ước được lập vào năm Gia Long thứ 7 (1808), có đoạn “chúng tôi là viên chức lớn nhỏ trong xã, thuộc xã Phước Sơn, tổng Phước Tường Thượng, huyện Hoà Vang, phủ Điện Bàn. Nay lập đồng ưng định cử ông cựu cai tên Đàm lên làm chức trùm cả để chăm sóc các việc trong đình, chùa… Từ nay những nam phụ, lão, ấu trong xã và những người ngụ cư, nhóm họp tại đình, tưởng niệm các bậc tiền hiền đều phaỉ giữ vững đúng phép tắc…”Từ những tư liệu đã được dẫn, đặc biệt như bản khoán ước làng Phước Sơn không chỉ chứng minh cho sự có mặt của đình làng Đà Nẵng vào đầu thế kỷ XIX mà tin tưởng sự xuất hiện của đình làng Đà Nẵng ở khoảng thời gian sớm hơn trước thời nhà Nguyễn (1802).

        Những ngôi đình hiện còn phần nhiều được xây dựng rải rác kéo dài trong suốt thế kỷ XX. Qua các tài liệu, cho đến trước năm 1945, gần như các làng xã đều có đình làng, nhưng do thiên tai như lũ lụt, gió bão và đặc biệt do các cuộc chiến tranh tàn phá, nhiều làng, người dân đã nhiều lần vất vả dựng lại ngôi đình. Bởi vậy, lịch sử của làng đã có hàng mấy thế kỷ, nhưng nhiều khi “tuổi” của đình làng chỉ được khoảng mấy chục năm trở lại đây.

        Cũng vì thiên tai và chiến tranh nên niên đại của đình làng Đà Nẵng, có điểm quan trọng đặc biệt là đa số những ngôi đình được xây dựng trước năm 1975, không mang đủ trên mình kiến trúc của ngày khởi dựng. Nhiều ngôi dình không chỉ được trùng tu một vài lần mà thậm chí đến bốn năm lần. Và do đó, sau mỗi lần như thế, các cấu kiện đã hoàn toàn khác tuổi. Việc thay đổi cả quy mô và kiểu thức kiến trúc mà không chú ý sẽ dễ bị nhầm lẫn, như ngôi đình Phước Thuận là một trường hợp điển hình.

        Những ngôi đình có niên đại từ giữa thế kỷ XX trở về trước thường được xây dựng chủ yếu bằng kết cấu khung nhà gỗ, có tường ngăn xây gạch vôi vữa càng về sau vật liệu và kỹ thuật mới hiện đại đã từng bước chiếm ưu thế trong kiến trúc đình làng. Nhiều ngôi đình được tôn tạo hay dựng mới sau ngày đất nước giải phóng thường có các hệ thống trụ, dầm bằng bê tông cốt thép, đặc biệt, số ít các đình mới xây dựng gần đây như đình Hoà Mỹ, đình Hoà Phú (quận Liên Chiểu), đình Mân Quang (quận Ngũ Hành Sơn) thì không còn bóng dáng những khung nhà gỗ, toàn bộ bằng bê tông cốt thép. Đó là những ngôi đình mang dấu ấn thời đại không lẫn vào đâu được.

 

Đình làng Đà Nẵng - những giá trị văn hóa

Chưa có bình luận ý kiến bài viết!

Đình Nại Nam

Đình làng Nại Nam nay ở khối phố Nam Sơn, phường Hòa Cường, quận Hải Châu. Đình được xây dựng năm ất Tỵ (1905) từ công sức đóng góp của dân địa phương, thờ Thành hoàng bảo an chính trực, bổn xứ thổ thần và các vị tiền nhân của làng.

Đình Túy Loan

Đình làng Túy Loan được xây dựng vào năm Thành Thái thứ nhất (1889) với diện tích trên 110 m2 nằm trong khuôn viên rộng hơn 8.000m2 (16 sào). Đình hiện tọa lạc tại thôn Túy Loan, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, nằm cách Trung tâm thành phố 15 cây số về phía Tây Nam, giáp với xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang. Đình Túy Loan được công nhận di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1999. Trải qua nhiều lần tôn tạo, phục dựng, đình trở lại gần như nguyên trạng ban đầu.

Đình Bồ Bản

Làng Bồ Bản được hình thành do các vị tiền hiền của tộc Trần, Hồ, Trương, Nguyễn từ các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An vào Nam khai khẩn đất đai lập nghiệp từ những năm cuối thế kỷ XV. Đến đời vua Lê Hiển Tông, niê hiệu Cảnh Hưng (1740- 1786) có thêm các họ Tán, Đinh, Nguyễn, Phạm và trở thành hậu hiền của làng.

Đình Thạc Gián

Đình làng Thạc Gián được xây dựng từ rất lâu đời, thuở ban sơ ngôi đình làng được dựng lên bằng tranh tre, vào đời Minh Mạng, đình làng được làm lại bằng gỗ, mái lợp tranh. Năm Tự Đức thứ bảy (1854), ngôi đình kiến tạo bằng gạch, mái lợp ngói âm dương và tiếp tục được tôn tạo vào năm Duy Tân thứ ba (1909), năm Khải Định nguyên niên (tức năm 1916) từ đóng góp của dân làng và đến năm 2009 được trùng tu một lần nữa từ nguồn ngân sách thành phố với kinh phí hơn 4 tỷ đồng. Đình Thạc Gián hiện tọa lạc tại tổ 5, Phường Chính gián, Quận Thanh Khê, Thành phố Đà Nẵng.

ĐÌNH TRUNG LƯƠNG

Toạ lạc tại phường Hoà Xuân, quận Cẩm Lệ

ĐÌNH AN NGÃI ĐÔNG

Đình An Ngãi Đông hiện toạ lạc tại làng An Ngãi Đông, xã Hoà Sơn, huyện Hoà Vang.

ĐÌNH THANH KHÊ

Toạ lạc tại Phường Thanh Khê Đông quận Thanh khê

Đình Xuân Thiều: Giá trị văn hóa - lịch sử đáng quý.

Nghệ thuật Kiến trúc đình làng Đà Nẵng

ĐÌNH MÂN QUANG

Đình Mân Quang hiện toạ lạc tại phường Hoà Quý, quận Ngũ Hành Sơn

Xuất bản thông tin

Navigation Menu

Navigation Menu

LIÊN KẾT WEBSITE

Navigation Menu

Navigation Menu

Navigation Menu