ĐÌNH MÂN QUANG

Đình Mân Quang hiện toạ lạc tại phường Hoà Quý, quận Ngũ Hành Sơn

Trước Cách mạng tháng Tám, tổng An Lưu bao gồm vùng đất Hoà Quý và Hoà Hải, có tất cả 18 làng. Hoà Quý gồmcác làng: Khái Tây, Thị An, An Lưu, Hải An, MânQuang, Bá Giáng, Tùng Lâm, Phi Bình, Kỳ La và Khuê Đông.

   Cách Mạng tháng Tám thánh công, tổng An Lưu đổi thành khu Lê Hồng Phong. Tháng 9 năm 1945, thực hiện chủ trương của nhà nước, các địa phương tiến hành hợp xã lần thứ nhất, 18 làng hợp thành 5 xã. Trong đó hai xã An Nam và An Tây thuộc phường Hoà Quý ngày nay. Mân Quang thuộc xã An Nam.

    Sau năm 1945, chính quyền Ngô Đình Diệm thành lập khu hành chính Khái Đông để quản lý các xã vùng Đông Hoà Vang. Hoà Quý chia làm hai xã Hoà Phụng và Hoà Lân.

     Sau năm 1975, Hoà Phụng và Hoà Lân nhập lại thành xã Hoà Quý thuộc huyện Hoà Vang. Năm 1977, xã Hoà Quý đổi thành phường Hoà Quý thuộc quận Ngũ Hành Sơn.

      Theo tài liệu của các tộc họ còn giữ được thì các ngài Lê Phước Thọ, Trần Văn Mỹ, Võ Quí Linh, Thái Công Xạ, Nguyễn Văn Thành, Đinh Vạn Nhan là sáu vị tiền hiền của làng Mân Quang. Tất cả đều từ vùng quê Thanh Hoá vào đây sinh cơ lập nghiệp.

      Sau một thời gian sinh sống ổn định ở vùng đất mới, dân làng đã cùng nhau chung sức xây dựng  một ngôi đình ở Cựu Điền xứ, sau một vài lần di dời ngôi đình được chuyển đến Tứ Phương xứ tức ở vị trí hiện nay. Ngôi đình lúc đó được làm bằng gỗ theo kiểu ba gian hai chái với bốn cột hiên bằng đá xanh. Tương truyền việc xây dựng đình do sự chỉ dẫn của một vị thần.

        Làng Mân Quang từ xa xưa đã là địa phương có truyền thống đánh giặc giữ nước. Thời kỳ đầu chống Pháp (1858-1860), dân làng Mân Quang đã hăng hái tham gia đánh giặc, góp phần làm thất bại ý đồ của thực dân Pháp.

        Năm 1946, hưởng ứng lời kêu gọi toàn quóc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh đạo thôn Mân Quang đã phát động nhân dân xây dựng phòng tuyến chống lại sự tấn công giặc Pháp. Trong kháng chiến chống Pháp đình Mân Quang bị đốt phá hoàn toàn. Sau hiệp định Giơ-ne-vơ (1954) được ký kết, nhân dân Mân Quang đã xây dựng lại ngôi đình.

        Trong kháng chiến chống Mỹ, chi bộ đảng Mân Quang lấy ngôi đình làm nơi hội họp, tổ chức cơ sở  để tránh sự nghi ngờ, phát hiện của địch. Cán bộ cơ sở cải trang bằng cách mặc aó dài, khăn đóng, lấy ngày rằm và mồng một sắm lễ đến đình để dự các cuộc họp bàn bạc phương thức hoạt động cách mạng ở địa phương.

         Vào năm 1963, đình làng Mân Quang là nơi treo lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam đầu tiên do đồng chí Huỳnh Đức Quí, Huỳnh Đức Nữ thực hiện nhiệm vụ.

        Thời gian này, đồng chí Lê Văn Lú làm bí thư chi bộ đã chỉ đạo đào bốn hầm bí mật tại đình làm nơi trú ẩn cho anh em cán bộ, du kích, bộ đội; đồng thời cũng là nơi tập kết thương binh để chuyển về tuyến trên.

   Năm 1968, đình Mân Quang còn là nơi triển khai học tập các chỉ thị, nghị quyết và phát động nhân dân tham gia ủng hộ tiền của phục vụ chiến dịch Mậu Thân.

    Năm 1972, do bị địch phát hiện các hoạt động của ta ở đây nên cơ sở phải chuyển đi nơi khác. Sau đó, địch đã dùng xe ủi san bằng ngôi đình.

    Năm 2003, dân làng Mân Quang đã cùng nhau chung tay góp sức dựng lại ngôi đình mới để thờ thần và các vị tiền hiền cùng những người cố công với quê hương, đất nước. Đình được khánh thành vào ngày 21 tháng 12 năm 2003, bằng các vật liệu hiện đại, kết cấu bê tông cốt thép, nhưng theo kiểu dáng cũ.

    Đình được xây theo hướng tây bắc, gồm chính điện và hậu tẩm. Phía trước đình là hai trụ biểu lớn, trên mỗi trụ có một con lân. Hai bên là hai trụ nhỏ, trên mỗi trụ có hình một bầu rượu. Tiếp theo là bình phong, mặt trước bình phong đắp nổi hai con hạc đứng trên mình rùa. Mặt trong đắp nổi hình long mã, tất cả đều ghép bằng sứ. Hai bên đình có hai ngôi miếu nhỏ, miếu bên phải thờ vị tướng họ Nguyễn, miếu bên trái  thờ vị tướng họ Võ. Theo truyền thuyết thì đây là hai vị tướng đã tiêu diệt được con thuỷ quái quấy phá cuộc sống của cư dân nơi đây.

    Bậc tam cấp dẫn lên phần tiền đình có hai cột tròn được trang trí hai con rồng cuốn. Hàng cột hiên hình vuông có các câu đối. Bên trong đình, phần hậu tẩm thờ thành hoàng làng. Hai bên tả ban, hữu ban thờ tiền hiền.

     Mái đình lợp ngói, hậu tẩm có mái riêng. Bờ nóc trang trí hình “lưỡng long triều nguyệt”. Hai đầu mái đình trang trí hình hai con phụng. Chính giữa phía trên điềm mái có ba chữ “Mân Quang đình”. Hai bên có hai con rùa. Tất cả các đồ trang trí này đều được ghép bằng sành sứ. Diềm mái được gắn một hàng đĩa men lam nhỏ. Hai đầu bậc tam cấp là hai con lân lớn.

    Hằng năm dân làng tổ chức cúng cầu an vào ngáy 10 tháng 3 (âm lịch). Các kỳ cúng đều do dân làng đóng góp. Các nghi lễ cúng tế đều được dân làng thực hiện như các bậc tiền nhân đã truyền lại.

     Đình Mân Quang được công nhận là di tích Lịch sử- Văn hoá thành phố vào ngày 08/7/2008

 

Đình làng Đà Nẵng - những giá trị văn hóa

Chưa có bình luận ý kiến bài viết!

Đình Nại Nam

Đình làng Nại Nam nay ở khối phố Nam Sơn, phường Hòa Cường, quận Hải Châu. Đình được xây dựng năm ất Tỵ (1905) từ công sức đóng góp của dân địa phương, thờ Thành hoàng bảo an chính trực, bổn xứ thổ thần và các vị tiền nhân của làng.

Đình Túy Loan

Đình làng Túy Loan được xây dựng vào năm Thành Thái thứ nhất (1889) với diện tích trên 110 m2 nằm trong khuôn viên rộng hơn 8.000m2 (16 sào). Đình hiện tọa lạc tại thôn Túy Loan, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, nằm cách Trung tâm thành phố 15 cây số về phía Tây Nam, giáp với xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang. Đình Túy Loan được công nhận di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1999. Trải qua nhiều lần tôn tạo, phục dựng, đình trở lại gần như nguyên trạng ban đầu.

Đình Bồ Bản

Làng Bồ Bản được hình thành do các vị tiền hiền của tộc Trần, Hồ, Trương, Nguyễn từ các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An vào Nam khai khẩn đất đai lập nghiệp từ những năm cuối thế kỷ XV. Đến đời vua Lê Hiển Tông, niê hiệu Cảnh Hưng (1740- 1786) có thêm các họ Tán, Đinh, Nguyễn, Phạm và trở thành hậu hiền của làng.

Quá trình hình thành làng xã và sự ra đời đình làng Đà Nẵng

Đình Thạc Gián

Đình làng Thạc Gián được xây dựng từ rất lâu đời, thuở ban sơ ngôi đình làng được dựng lên bằng tranh tre, vào đời Minh Mạng, đình làng được làm lại bằng gỗ, mái lợp tranh. Năm Tự Đức thứ bảy (1854), ngôi đình kiến tạo bằng gạch, mái lợp ngói âm dương và tiếp tục được tôn tạo vào năm Duy Tân thứ ba (1909), năm Khải Định nguyên niên (tức năm 1916) từ đóng góp của dân làng và đến năm 2009 được trùng tu một lần nữa từ nguồn ngân sách thành phố với kinh phí hơn 4 tỷ đồng. Đình Thạc Gián hiện tọa lạc tại tổ 5, Phường Chính gián, Quận Thanh Khê, Thành phố Đà Nẵng.

ĐÌNH TRUNG LƯƠNG

Toạ lạc tại phường Hoà Xuân, quận Cẩm Lệ

ĐÌNH AN NGÃI ĐÔNG

Đình An Ngãi Đông hiện toạ lạc tại làng An Ngãi Đông, xã Hoà Sơn, huyện Hoà Vang.

ĐÌNH THANH KHÊ

Toạ lạc tại Phường Thanh Khê Đông quận Thanh khê

Đình Xuân Thiều: Giá trị văn hóa - lịch sử đáng quý.

Nghệ thuật Kiến trúc đình làng Đà Nẵng

Xuất bản thông tin

Navigation Menu

Navigation Menu

LIÊN KẾT WEBSITE

Navigation Menu

Navigation Menu

Navigation Menu