Hiện trạng tài nguyên thiên nhiên
Thành phố Đà Nẵng sau sáp nhập có diện tích tự nhiên 11.859,59 km² (trong đó đặc khu Hoàng Sa 305 km²).
Tài nguyên đất
Thành phố Đà Nẵng sau sáp nhập có diện tích tự nhiên 11.859,59 km² (trong đó đặc khu Hoàng Sa 305 km²). Phần lục địa có cơ cấu đất đa dạng theo nguồn gốc phát sinh, gồm:
(i) đất vùng núi và gò đồi với các nhóm đất chủ yếu đất đỏ vàng (865.671 ha), đất mùn vàng đỏ (93.555 ha), đất dốc tụ (10.920 ha), đất xói mòn trơ sỏi đá (5.436 ha).
(ii) đất vùng đồng bằng gồm đất phù sa không nhiễm mặn (66.280 ha), đất mặn (14.383 ha), đất phèn mặn (1.913 ha).
(iii) đất cồn cát ven biển 43.101 ha; ngoài ra có đất xám (40.057 ha) và đất đen (464 ha) phân bố rải rác.
Tổng diện tích các nhóm đất thống kê là 1.141.780 ha.
Cơ cấu đất phản ánh đặc trưng địa hình - sinh thái của thành phố sau hợp nhất, đồng thời là cơ sở quan trọng cho định hướng sử dụng đất theo tiểu vùng: miền núi - trung du - đồng bằng ven biển và hệ thống dải cồn cát.
Tài nguyên rừng
Sau hợp nhất, thành phố có nguồn tài nguyên rừng phong phú, tổng diện tích đất lâm nghiệp khoảng 808.451,65 ha, chiếm 68,11% diện tích tự nhiên. Rừng thuộc hệ nhiệt đới thường xanh, có tính đa dạng sinh học cao do vị trí trung độ - giao thoa giữa luồng thực vật phía Bắc và phía Nam; chất lượng rừng còn tốt, có nhiều loài quý như kiền kiền, lim xanh, gõ, sao đen, chò… Khu vực miền núi có dược liệu quý, nổi bật Sâm Ngọc Linh và các lâm sản ngoài gỗ (song, mây…). Tại Cù Lao Chàm có rừng đặc dụng 1.490 ha, và khu vực này đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới.
Tài nguyên nước
Tài nguyên nước mặt: Nguồn nước mặt của thành phố Đà Nẵng sau sáp nhập khá phong phú, chủ yếu thuộc lưu vực Vu Gia – Thu Bồn và sông Tam Kỳ. Lưu vực Vu Gia – Thu Bồn có tổng diện tích khoảng 15.850 km² (Vu Gia 5.500 km², Thu Bồn 10.350 km²), đóng vai trò chi phối nguồn nước cho khu vực. Các sông Hàn và Cu Đê là nguồn cấp nước chính cho sinh hoạt và sản xuất, với tổng lượng nước trung bình năm khoảng 8,3 tỷ m³, trong đó riêng sông Hàn khoảng 7,6 tỷ m³/năm. Hệ thống hồ chứa lớn như Phú Ninh, Khe Tân, Việt An, Vĩnh Trinh, Thái Xuân… có vai trò quan trọng trong điều tiết nguồn nước và tưới tiêu khoảng 70.000 ha đất nông nghiệp. Tuy nhiên, khu vực hạ lưu các sông thường xuyên đối mặt nguy cơ xâm nhập mặn vào mùa khô, đòi hỏi quản lý tổng hợp và điều tiết chặt chẽ nguồn nước thượng nguồn.
Tài nguyên nước dưới đất: Trên cơ sở dữ liệu điều tra - lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất và Báo cáo tài nguyên nước quốc gia giai đoạn 2016-2021, tổng trữ lượng tiềm năng nước dưới đất của thành phố ước khoảng 4.149.420 m³/ngày, trữ lượng có thể khai thác 1.244.827 m³/ngày, phân bố theo các tầng chứa nước khác nhau, là nguồn bổ trợ quan trọng cho cấp nước và sản xuất, nhất là tại các khu vực chịu rủi ro thiếu nước mùa khô.
Chất lượng nước mặt nhìn chung đáp ứng quy chuẩn theo mục đích sử dụng, song đã xuất hiện ô nhiễm cục bộ tại một số đoạn sông, liên quan đến hoạt động khai thác khoáng sản, nước thải sinh hoạt và sản xuất; hiện tượng xâm nhập mặn trên các sông Hàn, Cu Đê, Vĩnh Điện, Cầu Đỏ – Cẩm Lệ… là thách thức đáng chú ý đối với an ninh nguồn nước. Chất lượng nước dưới đất cơ bản còn tốt, nhưng tại một số khu vực đã ghi nhận dấu hiệu ô nhiễm do nguồn thải sinh hoạt và điều kiện địa chất, cần tăng cường giám sát trong quá trình đô thị hóa.
Tài nguyên biển
Thành phố có đường bờ biển trên 200 km, mở ra không gian kinh tế biển rộng lớn với ngư trường khoảng 40.000 km² và tiềm năng phát triển kinh tế biển tổng hợp. Trữ lượng thủy sản cho phép khai thác hằng năm trên 150 nghìn tấn, trong đó nguồn lợi tập trung nhiều ở vùng nước sâu 50-100 m (chiếm tỷ trọng lớn), tạo dư địa phát triển nghề cá xa bờ và giảm áp lực khai thác ven bờ. Thành phố có nhiều sản phẩm hải sản giá trị như hải sâm, bào ngư, tôm hùm và yến sào Cù Lao Chàm... Tiềm năng nuôi trồng thủy sản lớn với khoảng 30.000 ha mặt nước, gồm 10.000 ha bãi triều, thuận lợi cho nuôi bè và nuôi tôm; các sản phẩm chủ lực như cá mú, cá cam, tôm sú, tôm hùm. Tài nguyên du lịch biển nổi bật với chuỗi bãi tắm và cảnh quan kết hợp biển - núi (Sơn Trà, Hải Vân, Cù Lao Chàm…), đồng thời vịnh nước sâu là điều kiện phát triển cảng biển quốc tế, thúc đẩy giao thương.
Tài nguyên khoáng sản
Khoáng sản trên địa bàn đa dạng nhưng phân tán, quy mô nhỏ, chủ yếu ở vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa, điều kiện tiếp cận và quản lý khó khăn.
- Khoáng sản kim loại và nhiên liệu: gồm sắt, mangan, molipden, đồng, chì, kẽm, thiếc, titan, vàng, urani, đất hiếm…; nhiều điểm có trữ lượng nhỏ và hàm lượng thấp, song một số mỏ vàng có triển vọng. Vàng gốc và sa khoáng tại Bồng Miêu đã/đang khai thác; urani có tiềm năng dự báo 33.020 tấn tại một số khu vực trầm tích bồn trũng; than đá tại Nông Sơn -
An Điềm là nguồn tài nguyên nhiên liệu quan trọng. Khoáng sản phi kim và vật liệu xây dựng: gồm cát thủy tinh (Nam Ô trữ lượng cấp C2 trên 6 triệu tấn), cát - sỏi xây dựng tại các sông lớn; đá xây dựng tại Bà Nà, An Khê, Hòa Khánh; đá mỹ nghệ Non Nước - Ngũ Hành Sơn; cùng đá vôi, sét, xi măng, sét gạch ngói… phục vụ nhu cầu xây dựng.
- Tài nguyên nước khoáng: có nước khoáng nóng silic tại Hòa Vang, Hòa Tiến, Phú Ninh, Đèo Le, Trà Don... tiềm năng phát triển du lịch - nghỉ dưỡng.
Tài nguyên văn hoá lịch sử
Thành phố Đà Nẵng sau sáp nhập sở hữu hệ thống tài nguyên văn hóa – lịch sử đặc biệt phong phú, phản ánh đầy đủ các lớp trầm tích từ văn hóa Sa Huỳnh, Chăm Pa, Đại Việt đến thời kỳ giao thương quốc tế và giai đoạn hiện đại. Không gian di sản phân bố tương đối đồng đều giữa khu vực đô thị ven biển, đồng bằng. Nhiệm vụ Quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 sông Thu Bồn và miền núi phía Tây, tạo nên nền tảng quan trọng cho phát triển du lịch bền vững và xây dựng bản sắc đô thị.
Về di tích lịch sử – văn hóa: Trên địa bàn thành phố hiện có hai Di sản văn hóa thế giới được UNESCO ghi danh là Phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn. Bên cạnh đó là hệ thống di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia và cấp tỉnh phong phú như Ngũ Hành Sơn, Bán đảo Sơn Trà, Phật viện Đồng Dương, Khu di tích cách mạng K20 và Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng. Hệ thống tháp Chăm, đình làng, miếu cổ và di tích cách mạng phân bố rộng khắp, tạo nên chiều sâu lịch sử liên tục của vùng đất.
Về văn hóa phi vật thể: Thành phố có hàng trăm lễ hội truyền thống gắn với tín ngưỡng dân gian, văn hóa biển và văn hóa nông nghiệp. Các lễ hội tiêu biểu như Lễ hội Quán Thế Âm, Lễ hội Cầu Ngư, Lễ hội Bà Thu Bồn, Tết Nguyên Tiêu Hội An được tổ chức thường niên, thu hút đông đảo người dân và du khách. Di sản Bài chòi Trung Bộ được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại hiện diện rộng rãi trong đời sống văn hóa địa phương, cùng với các loại hình tuồng, dân ca Quảng Nam, hò khoan, văn hóa Cơ Tu miền núi.
Hệ thống làng nghề truyền thống: Các làng nghề truyền thống như mộc Kim Bồng, gốm Thanh Hà, rau Trà Quế, nước mắm Nam Ô và dệt thổ cẩm Cơ Tu phản ánh bản sắc kinh tế – văn hóa đặc trưng vùng duyên hải miền Trung. Các làng nghề không chỉ giữ gìn sinh kế truyền thống mà còn có tiềm năng phát triển thành không gian du lịch trải nghiệm, giáo dục di sản và sản phẩm OCOP.
Về di sản kiến trúc đô thị: Khu vực Đà Nẵng và Hội An sở hữu cấu trúc đô thị đa lớp, từ kiến trúc thương cảng quốc tế thế kỷ XVI–XVIII tại Hội An đến kiến trúc Pháp thuộc và đô thị cảng biển đầu thế kỷ XX tại trung tâm Đà Nẵng. Các không gian cộng đồng như đình, chùa, nhà thờ tộc, nhà Gươl miền núi tạo nên cấu trúc văn hóa
Hệ thống bảo tàng: Các bảo tàng như Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng và Bảo tàng Hội An lưu giữ nhiều hiện vật, cổ vật và tư liệu quý về lịch sử giao thương, khảo cổ và văn hóa Chăm Pa. Đây là nguồn lực đặc biệt cho nghiên cứu, giáo dục truyền thống và quảng bá hình ảnh thành phố.
Phó Bí thư Thành ủy Nguyễn Mạnh Hùng được bầu giữ chức Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng
Sáng 14-4, HĐND thành phố khóa XI tổ chức Kỳ họp thứ nhất. Tại kỳ họp, các đại biểu đã tiến hành bầu chức danh Chủ tịch UBND thành phố nhiệm kỳ mới.
Hội nghị công bố các quyết định về công tác cán bộ
Chiều 22-5, Thành ủy tổ chức hội nghị công bố các quyết định về công tác cán bộ.
Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Mạnh Hùng: Lấy hạnh phúc và hài lòng của Nhân dân làm thước đo hiệu quả
Phát biểu nhận nhiệm vụ tại Kỳ họp thứ nhất, HĐND thành phố khóa XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031, Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định quyết tâm hành động quyết liệt, đổi mới tư duy quản lý, nâng cao năng lực điều hành, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực phát triển.
Đổi mới hình thức tuyên truyền, nhân rộng mô hình phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc
Đây là phát biểu của Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch UBND thành phố Phạm Đức Ấn tại Hội nghị tổng kết công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 tổ chức chiều 30-3.
Đà Nẵng phải đổi mới tư duy, định vị mô hình phát triển mới
Đây là ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Thành uỷ Đà Nẵng vào chiều 25-4.


Chưa có bình luận ý kiến bài viết!