Giá trị văn hóa, lịch sử Đình làng Đà Nẵng
Và Đình làng chính là nơi hội tụ của cộng đồng làng xã, là một thiết chế văn hoá cổ truyền của người Việt thông qua các hình thức tín ngưỡng, lễ hội đầy màu sắc mang đậm tính nhân văn sâu sắc. Được hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, trở thành kỷ cương, linh hồn và ngưỡng vọng của mỗi người dân.
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, Đình làng vẫn còn đó nguyên vẹn những giá trị lịch sử, văn hóa, xã hội của một vùng đất, cư dân địa phương.
Đình làng Đà Nẵng có thể không sánh với những đình làng ở phía Bắc, phía Nam về giá trị lịch sử, văn hóa, xã hội nhưng vẫn chứa đựng những giá trị văn hóa, lịch sử rất riêng và quan trọng đó là sự gắn bó với lịch sử hình thành, sinh sống của người Đà Nẵng, của tiến trình bảo vệ, giữ gìn bờ cõi.
Cũng như các đình làng khác ở nước ta, các đình làng Đà Nẵng có chung đặc điểm về giá trị văn hóa đó là một trung tâm tín ngưỡng, hoạt động văn hoá, văn nghệ, giáo dục truyền thống, duy trì những thuần phong mỹ tục. Khoảng từ thế kỷ XV, đình không còn chức năng thờ Phật như trong những thế kỷ trước, mà là nơi thờ Thành hoàng. Thành hoàng có thể là những người có công với nước, với dân... Thành hoàng làng cũng có thể là người có công đầu trong việc lập làng, hoặc khởi xướng một ngành nghề, tức các vị tổ nghề. Đôi khi Thành hoàng làng chỉ là những nhân vật huyền thoại. Đình cũng có thể thờ những anh hùng cái thế của dân tộc, từ vua chúa đến các danh nhân, các vị tổ các dòng họ có công lập làng và những người có nhiều công đức với làng tuy không được tôn làm Thành hoàng. Thành hoàng làng đều có ngày sinh, ngày hoá, ngày khánh hạ. Đây là những ngày lễ trọng, dân chúng thường chọn một trong ba ngày đó, vào thời gian nông nhàn và mát mẻ để mở hội làng, thông thường là vào mùa xuân hoặc cuối thu sang đông. Trong những ngày hội, mọi trò diễn dân gian được dịp thăng hoa, tạo nên niềm tin và hy vọng cho một cộng đồng làng xã và cũng nhằm nuôi dưỡng và phát triển nền văn hoá truyền thống của dân tộc.
Giá trị văn hóa Đình làng Đà Nẵng được phản ánh, thể hiện và duy trì thông qua các lễ hội văn hóa dân gian truyền thống theo đúng tập tục và các nghi thức xưa. Trong những ngày lễ hội, cả một vùng rực rỡ màu sắc và rộn ràng những khúc hát cầu an, nhịp điệu bài chòi tha thiết, lễ hội đua thuyền…. Các lễ hội Đình làng của Đà Nẵng có từ rất xưa, được lưu truyền và gìn giữ từ đời này sang đời khác, như lễ hội đình làng Túy Loan, lễ hội đình làng Hoà Mỹ, lễ hội đình làng An Hải, lễ hội đình làng Hải Châu,...Theo cùng năm tháng, các lễ hội đình làng đã trở thành nét đẹp văn hóa khó phai mờ trong tâm thức của cư dân địa phương, và đó cũng là dịp để người dân được đắm mình trong một không gian lễ hội mang đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.
Không chỉ là những giá trị văn hóa, đình làng Đà Nẵng còn chứa đựng những giá trị lịch sử vô giá, gắn liền với tiến trình bảo vệ bờ cõi của dân tộc, của công cuộc đấu tranh giữ nước của người Đà Nẵng.
Đi khắp nơi trên vùng đất này, ngôi đình nào cũng ghi dấu phong trào yêu nước từ các cuộc khởi nghĩa Cần Vương, nghĩa hội Quảng Nam đến cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 và cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Có thể kể ra ở đây những sự kiện lịch sử gắn liền với một số đình làng ở Đà Nẵng như:
Đình Mân Quang: Trong kháng chiến chống Pháp (1858 - 1860) đình làng được Nguyễn Tri Phương dùng làm nơi đóng quân, làm kho chứa lương thực, súng đạn, thuốc men để đánh giặc. Từ năm 1945 – 1954, Đình làng là trụ sở làm việc của Uỷ ban cách mạng lâm thời khu phố Phó Đức Chính, nơi bầu cử Quốc hội khoá I và là địa điểm liên lạc, đào hầm bí mật hoạt động của du kích khu Đông. Trong kháng chiến chống Mỹ 1954 – 1975, đình được làm trụ sở Hội đồng hương chính, công dân vụ, lấy cây U làm trạm gác và đài quan sát, đồng thời là nơi hội họp, mittinh của nhân dân trong làng. Ngày 29/3/1975, khi thành phố Đà Nẵng được giải phóng, ngôi đình trở thành trụ sở của chính quyền cách mạng lâm thời.
Đình An Hải: Tại đây, thời kỳ Cần vương cứu nước, nghĩa quân của Nghĩa hội Quảng Nam do Nguyễn Duy Hiệu lãnh đạo đã nhiều lần tấn công, làm cho quân giặc khiếp vía. Đầu năm 1887, trong lúc thế cùng lực kiệt, thủ lãnh nghĩa quân Nguyễn Duy Hiệu đành chọn giải pháp giải tán nghĩa quân nhằm bảo tồn tổ chức và lực lượng còn lại để tiếp tục nghiên cứu tìm đường cứu nước hiệu quả hơn. Sau khi cử nhân Phan Bá Phiến uống độc dược, Nguyễn Duy Hiệu về cố hương cư tang mẹ, rồi báo cho giặc đến bắt. Tặc tướng Nguyễn Thân đưa quân đến bắt Nguyễn Duy Hiệu và đưa về qua địa phận Ngũ Hành Sơn, trên đường qua bến đò Hà Thân. Nhằm giải thoát cho thủ lãnh Nguyễn Duy Hiệu, Đội trưởng Phan Văn Đạo đưa quân về trú tại đình làng An Hải, chẳng may bị giặc phát hiện tập kích bốn phía rồi xông vào đình làng. Đội trưởng Phan Văn Đạo cùng một số nghĩa quân đã dũng cảm hy sinh tại đây. Để nhớ công ơn những nghĩa quân đã hy sinh người dân địa phương thờ phụng tại đình. Trước cái chết nghiệt ngã của người bạn tâm giao Trần Quang Diệu, Nguyễn Văn Thoại đích thân từ Châu Đốc về quê trao cho bà vợ thứ Nguyễn Thị Hiền mua 18 mẫu ruộng làm hương hoả, trong đó âm thầm trích 3 mẫu, giao cho hào mục Trần Văn Chiêu dành hương khói cho Trần Quang Diệu.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đuổi Nhật vào năm 1942 nơi đây đã nhóm lên phong trào yêu nước “Truyền bá quốc ngữ” và thành lập tổ chức “Hội thanh niên cứu quốc” sau đó đổi thành “Hội tự vệ cứu quốc” rồi “Đội tự vệ cứu quốc”. Trong kháng chiến chống Mỹ, đây là nơi tập trung lực lượng cách mạng tiến hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968 và chiến dịch mùa xuân lịch sử 1975.
Đình Xuân Thiều: Năm 1858 tàu chiến Pháp tấn công vào Đà Nẵng, đình Xuân Thiều là nơi dân làng tập trung lương thực, thực phẩm cho quân sĩ triều đình Huế chiến đấu. Tiếp đến cuộc khởi binh của Tôn Thất Thuyết tấn công giặc Pháp ở Huế thất bại, một bộ phận quân triều đình tan rã chạy vào các tỉnh phía Nam. Một lần nữa, đình Xuân Thiều và nhân dân nơi đây đã đứng ra giúp đỡ để họ trở về quê quán.
Tổng khởi nghĩa cướp chính quyền tháng 8 năm 1945, đình Xuân Thiều là nơi thành lập chính quyền cách mạng thôn Xuân Thiều, là điểm bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Trong kháng chiến chống Pháp, đình là nơi bộ đội, du kích ở để đánh Pháp trên đường quốc lộ I và cũng là nơi Chi bộ Đảng địa phương hội họp, trao đổi nắm tình hình địa phương.
Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân (1968), đình Xuân Thiều là nơi tập họp, tập trung các lực lượng đấu tranh chính trị ở các thôn Xuân Thiều, Trung Sơn, Quan Nam. Từ đây hàng trăm người mang cờ Mặt trận giải phóng, biểu tình vây đồn bốt giặc ở rừng Xuân Thiều, cản đầu xe địch không cho chúng đi càn quét bắn giết đồng bào.
Đình làng, cây đa, bến nước– Những hình ảnh thân thương gắn liền với đời sống bao đời nay của người dân, mãi mãi là hình ảnh khó phai mờ, chất chứa biết bao kỷ niệm, ân tình của làng quê. Đối với người Đà Nẵng, những giá trị văn hóa lịch sử của Đình làng Đà Nẵng sẽ mãi tồn tại và đi cùng năm tháng với người dân Đà Nẵng hôm nay, cũng như sẽ được bảo tồn, truyền đạt và phát huy cho những thế hệ kế tiếp về nét đẹp văn hóa truyền thống, tinh thần dân tộc, lòng yêu nước của lớp lớp cha, ông đi trước đã quên mình đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ quê hương mến yêu.
Đánh giá bài viết:
Đình làng Đà Nẵng - những giá trị văn hóa
"Cảm ơn bạn đã bình luận!"
Đình Nại Nam
Đình làng Nại Nam nay ở khối phố Nam Sơn, phường Hòa Cường, quận Hải Châu. Đình được xây dựng năm ất Tỵ (1905) từ công sức đóng góp của dân địa phương, thờ Thành hoàng bảo an chính trực, bổn xứ thổ thần và các vị tiền nhân của làng.
Đình Túy Loan
Đình làng Túy Loan được xây dựng vào năm Thành Thái thứ nhất (1889) với diện tích trên 110 m2 nằm trong khuôn viên rộng hơn 8.000m2 (16 sào). Đình hiện tọa lạc tại thôn Túy Loan, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, nằm cách Trung tâm thành phố 15 cây số về phía Tây Nam, giáp với xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang. Đình Túy Loan được công nhận di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1999. Trải qua nhiều lần tôn tạo, phục dựng, đình trở lại gần như nguyên trạng ban đầu.
Đình Bồ Bản
Làng Bồ Bản được hình thành do các vị tiền hiền của tộc Trần, Hồ, Trương, Nguyễn từ các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An vào Nam khai khẩn đất đai lập nghiệp từ những năm cuối thế kỷ XV. Đến đời vua Lê Hiển Tông, niê hiệu Cảnh Hưng (1740- 1786) có thêm các họ Tán, Đinh, Nguyễn, Phạm và trở thành hậu hiền của làng.
Quá trình hình thành làng xã và sự ra đời đình làng Đà Nẵng
Đình Thạc Gián
Đình làng Thạc Gián được xây dựng từ rất lâu đời, thuở ban sơ ngôi đình làng được dựng lên bằng tranh tre, vào đời Minh Mạng, đình làng được làm lại bằng gỗ, mái lợp tranh. Năm Tự Đức thứ bảy (1854), ngôi đình kiến tạo bằng gạch, mái lợp ngói âm dương và tiếp tục được tôn tạo vào năm Duy Tân thứ ba (1909), năm Khải Định nguyên niên (tức năm 1916) từ đóng góp của dân làng và đến năm 2009 được trùng tu một lần nữa từ nguồn ngân sách thành phố với kinh phí hơn 4 tỷ đồng. Đình Thạc Gián hiện tọa lạc tại tổ 5, Phường Chính gián, Quận Thanh Khê, Thành phố Đà Nẵng.
ĐÌNH TRUNG LƯƠNG
Toạ lạc tại phường Hoà Xuân, quận Cẩm Lệ
ĐÌNH AN NGÃI ĐÔNG
Đình An Ngãi Đông hiện toạ lạc tại làng An Ngãi Đông, xã Hoà Sơn, huyện Hoà Vang.
ĐÌNH THANH KHÊ
Toạ lạc tại Phường Thanh Khê Đông quận Thanh khê
ĐÌNH MÂN QUANG
Đình Mân Quang hiện toạ lạc tại phường Hoà Quý, quận Ngũ Hành Sơn
Nghệ thuật Kiến trúc đình làng Đà Nẵng


Chưa có bình luận ý kiến bài viết!