Nghề "ăn" mứt Nam Ô

Mứt là thực phẩm của đất trời sinh ra từ đá gành trong điều kiện khắc nghiệt ở biển. Thu hái nó, người Nam Ô gọi là "ăn" mứt, như "ăn" trầm, "ăn" lá làm nón…

Gành đá Hải Vân là một trong những nơi có nhiều mứt

Từ giữa tháng 9 đến giữa tháng 12 âm lịch, khi tiết trời trở lạnh, từng đợt sóng biển cuồng nộ bủa chất nước biển pha ít nước ngọt từ các nguồn sông lên những tảng đá gành bao bọc quanh vũng Sơn Trà – Hải Vân, cộng thêm trời mưa lâm thâm và khí trời tê lạnh là đủ để những tảng đá sát mép nước này lún phún mọc lên một loài rêu màu đen mà từ cổ người Nam Ô gọi là mứt, tên gọi cho ta cảm giác mềm, ngon, hấp dẫn. Các cụ lão nho sính chữ nghĩa thì gọi là huyền tảo (?).

Khoảng độ mười ngày đến nửa tháng, rêu ấy dài thêm cả tấc, để lâu nữa có thể dài 3-4 tấc, đen nhánh như tóc. Các mâm cơm thời bây giờ có thể không còn xa lạ gì với món quà của biển này, thế nhưng chỉ khoảng 30-40 năm trước, người ta hãy còn cho đây là loại thực phẩm lạ lẫm, chưa từng nếm qua...

Có quá không khi nói người Nam Ô đã biết khai thác và sử dụng món ăn của đất trời này rất sớm, trước cả “các chú” người Tàu trong Nam biết tiếng lặn lội ra tận Nam Ô tìm mua về làm món sang trọng cao cấp trong các nhà hàng ở Chợ Lớn và không dám đặt tên mới mà vẫn cứ gọi nôm na là “tóc tiên” một cách gợi hình, gợi nhớ.

Gợi nhớ một truyền thuyết giải thích về sự sớm hiểu biết giá trị tuyệt vời của mứt ở làng Nam Ô.

Chuyện kể rằng, ngày xưa, xưa lắm, khi dân cư làng chài Nam Ô còn mông muội, chỉ độc một nghề đánh bắt cá tôm. Bữa ăn cơm ít, hải sản nhiều. Những nơi làm nông thời ấy cũng đói trong ngày giáp hạt, thóc có dư đâu mà trao đổi lại qua. Nghề biển đến tiết tháng 10 là sập cửa, thuyền không ra biển thì lấy gì giữ bữa hằng ngày, rau thông, rau bãi luộc chấm mắm suông sao?

Có ông Câu, truyền thuyết gọi tên vậy, một bữa bụng đói vác cần ra gành mong tìm con cá. Cá chưa kịp ăn câu mà người đã đói lả, thiếp đi. Trong cơn mơ thấy một bà tiên tóc dài đen nhánh bay trong gió, bụng dạ đang đói muốn thèm ăn, bèn đưa tay quơ quào bứt lấy tóc ấy bỏ vội vào mồm. Tóc có vị mặn, dịu mát, đậm đà hương vị biển. Ăn một hồi cảm thấy cơ thể có nguồn sinh lực tái sinh, đúng lúc con sóng lớn bủa lên gành tạt nước biển lên mình ướt sũng, choàng tỉnh. Vẫn thấy tay mình còn nắm một mớ rêu biển đen mềm. Ông Câu nghĩ rằng tiên hiện ra cứu khổ, vội thu một mớ rêu mà ông gọi là tóc tiên đem về truyền cho khắp làng để cứu đói.

Đến mùa, các hòn đá từ gành lộng đến gành khơi đã đen nhánh những mứt. Mứt có hai loại: loại to bản bè ra gọi mứt lá, loại mảnh mai dài ra như tóc gọi mứt tóc. Tóc đã tốt thì cần phải cạo. Cạo là cách thu hái, chỉ dành cho những ai có đầy đủ các tố chất như gan dạ, phản ứng nhanh nhẹn, thủ pháp lanh lẹ, quen sóng gió.

Ngày trước, người “ăn” mứt chuyên nghiệp phải trang bị cho mình một cái gùi mang vai (như cái gùi bằng mây của người Thượng), một cái cảu (như cái rổ) đan bằng tre sâu bụng hẹp miệng và 5-6 cái “dũm” để cạo mứt, mòn cái này thay cái khác. “Dũm” là một miếng sắt tây cắt tròn từ thùng phuy đựng xăng dầu, có đường kính sau khi gò chừng 10cm, hình thể như cái vá múc canh. (Hồi chưa có loại sắt tây này, có lẽ ông bà ngày xưa “ăn” mứt bằng cách bứt bằng tay).

Ngày nay chỉ mang theo mấy cái bao tời, trong đó có một bao miệng lận vành sắt tròn làm đồ chứa mứt trong lúc cạo, tiện lợi vô cùng khi gặp phải sóng đánh mà mứt thu được vẫn còn nguyên.

Như đã nói, mứt chỉ mọc trên các gành đá gần cửa sông mang nước ngọt từ nguồn pha nước biển, trong lộng thì gành đá Nam Ô, xa hơn thì gành Hải Vân và phía bắc gành bán đảo Sơn Trà.

Người theo nghề “ăn” mứt có hai cách để đến điểm có nhiều mứt kể trên: “ăn” mứt bộ và “ăn” mứt ghe. Biển động, ghe không xuất bến được thì đi “ăn” bộ, một nhóm 5-7 người phải dậy từ 2 giờ sáng cuốc bộ, nhưng chỉ đến được những điểm gần. Đi “ăn” mứt ghe, mỗi ghe hơn chục người, dậy từ 3 giờ sáng. Xuất bến thì sóng êm nhưng có khi đến điểm “ăn” mứt thì gió to, sóng lớn, đòi hỏi người đi “ăn” mứt phải đủ bản lĩnh tay nghề. Nhưng đó là đề tài của một bài viết khác.

Kết thúc bài này, xin nêu một vài cảm nhận của người đã dùng qua món mứt Nam Ô. Họ bảo, mứt là sự lựa chọn hàng đầu vì sức bổ dưỡng vô song và còn đồn rằng có thể ngăn ngừa bướu cổ và chữa được các bệnh phụ khoa (?). Thực hư thế nào không quan trọng, hãy một lần thưởng thức mứt Nam Ô, bởi khoảng giữa tháng chạp, đất trời sắp chuyển sang xuân ấm áp, mứt tự biến mất, kết thúc một vòng đời ngắn ngủi của mình, hẹn mùa sau tái ngộ, để lại cho người theo nghề “ăn” mứt xóm Gành một mùa xuân no đủ.

Theo Báo Đà Nẵng điện tử

Đà Nẵng - những góc nhìn

Chưa có bình luận ý kiến bài viết!

Hầm Hải Vân – dấu ấn trên hành trình Bắc-Nam

Sau gần 5 năm xây dựng, ngày 5/6/2005 hầm Hải Vân chính thức khánh thành. Những người lái xe trên lộ trình Bắc-Nam nay chỉ còn mất 10-15 phút để "vượt đèo Hải Vân" trên đoạn đường hầm dài hơn 12 km thay vì mất gần 1 giờ đồng hồ "leo lên rồi tuột dốc" con đường đèo 21 km nếu không gặp bất kỳ sự cố nào. Và cũng từ ngày ấy, đường đèo Hải Vân chính thức chấm dứt sứ mệnh gần 1 thế kỷ là con đường thiên lý Bắc- Nam để trở thành con đường du lịch độc đáo.

Cầu Tuyên Sơn

Cái độc đáo của cây cầu Tuyên Sơn - còn gọi cầu Tiên Sơn - nằm ở tầm cỡ quốc gia và khu vực: đây là cây cầu vượt sông cuối cùng trên Hành lang Kinh tế Đông - Tây trước khi con đường xuyên Á này vươn ra biển Đông qua cảng nước sâu Tiên Sa. Cái độc đáo nữa nằm ở tên gọi cây cầu, đúng hơn là nằm ở quá trình Quảng Nam hay cãi về tên gọi cây cầu nhằm khẳng định rằng giữa Tuyên Sơn và Tiên Sơn thì cách gọi nào đúng với ý tưởng của cha ông xưa khi đặt địa danh này.

Đài Tưởng niệm - nơi ghi công các anh hùng liệt sỹ

Những hy sinh, mất mát trong chiến tranh là điều không thể tránh khỏi. Đất nước ta, trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước đã biết bao nhiêu lần phải đối diện với nạn ngoại xâm, từng lớp lớp người dân Việt Nam đã bỏ ruộng cày, xếp bút nghiên theo tiếng gọi của quê hương lên đường gìn giữ nền độc lập, bảo vệ từng mét vuông đất đai bờ cõi, từng vùng biển, vùng trời, từng cột mốc biên giới hải đảo.

Cầu Rồng- biểu tượng kiến trúc mới trong thời kỳ hội nhập

Khánh thành đúng dịp kỷ niệm 38 năm giải phóng thành phố Đà Nẵng (29/3/2013), cầu Rồng là cây cầu thứ 6 bắc qua dòng sông Hàn. Với thiết kế độc đáo mô phỏng hình dáng con rồng đang uốn lượn trên mặt sông Hàn và hướng ra biển Đông, đầu rồng ngẩng cao và thân rồng uốn lượn. Cầu Rồng là trục chính của Đà Nẵng theo hướng Đông – Tây, là tuyến đường ngắn nhất, nối liền sân bay quốc tế Đà Nẵng với các khu du lịch cao cấp ven biển Sơn Trà- Điện Ngọc, đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển và hoàn thiện hạ tầng giao thông đô thị thành phố, đồng thời được kỳ vọng trở thành biểu tượng kiến trúc mới của thành phố.

Cầu Thuận Phước – dải lụa nối đôi bờ sông Hàn

Một trong những điểm nhấn nổi bật của thành phố Đà Nẵng là những chiếc cầu nối liền đôi bờ sông Hàn. Bởi lẽ không chỉ giúp người dân đi lại thuận lợi hơn mà còn kết nối giao thương, tạo đà cho phát triển kinh tế, đồng thời tạo nên nét riêng cho thành phố với những kiến trúc mới lạ, ý tưởng thiết kế độc đáo. Không những thế, khi màn đêm buông xuống dòng sông Hàn, những chiếc cầu trở nên rực rỡ hơn dưới những ánh đèn màu, càng làm tôn thêm vẻ quyến rũ của một thành phố trẻ năng động. Một trong số đó phải kể đến cầu Thuận Phước – cầu treo dây võng dài nhất Việt Nam.

Cầu Sông Hàn- niềm tự hào của người dân Đà Nẵng

Một năm sau khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương (1997), Đà Nẵng đã khởi công xây dựng cầu Sông Hàn – một công trình mang tính đột phá về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của thành phố lúc đó. Đây không chỉ là công trình chào mừng thiên niên kỷ thứ ba mà còn là một bước ngoặt đánh dấu sự chuyển mình của thành phố Đà Nẵng trẻ trung, năng động, biểu tượng cho một khát vọng vươn lên của người dân thành phố.

Cầu Nguyễn Văn Trỗi – chứng nhân lịch sử

Cầu Nguyễn Văn Trỗi được Hãng thầu RMK của Mỹ xây dựng những năm 1960, gồm 14 nhịp giàn thép Poni có tổng chiều dài 513,8m, khổ cầu 10,5m, phần xe chạy 8,5m, không có lề dành cho người đi bộ. Đây là cầu đường bộ đầu tiên bắc qua sông Hàn, được xây dựng nhằm chuyên chở khí tài chiến tranh từ cảng Tiên Sa vào nội đô Đà Nẵng, để quân đội Mỹ vận hành cỗ máy chiến tranh khốc liệt tại khu vực miền Trung Việt Nam.

Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Quân khu 5

Bảo tàng Hồ Chí Minh tại thành phố Đà Nẵng nằm trong cụm bảo tàng lưu giữ những kỷ vật về Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị cha già kính yêu của dân tộc. Bảo tàng được xây dựng phỏng theo khuôn mẫu ngôi nhà thật của Bác ở thủ đô Hà Nội với ao cá, nhà sàn, vườn cây.. và lưu giữ một số kỷ vật về cuộc đời và sự nghiệp đấu tranh vì dân tộc của Người, tạo ra một không gian vừa thiêng liêng vừa ấm áp, gần gũi.

Cung Thể thao Tiên Sơn – Đĩa bay giữa lòng thành phố

Thành phố Đà Nẵng đang đẹp hơn từng ngày với nhiều công trình kiến trúc độc đáo, mới lạ về ý tưởng, thiết kế cũng như công nghệ thi công và kỹ thuật hiện đại. Các công trình lớn lần lượt được xây dựng không chỉ đem lại diện mạo mới cho thành phố mà còn đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, giao thông, văn hóa, thể thao và du lịch của Đà Nẵng. Một trong số đó phải kể đến Cung Thể thao Tiên Sơn - trung tâm thể thao tiêu biểu của thành phố với trang thiết bị hiện đại đáp ứng yêu cầu tổ chức các giải đấu thể thao và sự kiện văn hóa, nghệ thuật, hội chợ, triển lãm mang tầm quốc gia và khu vực.

Thư viện Khoa học Tổng hợp Đà Nẵng – kí ức những mùa thi

Nằm ở trung tâm thành phố, ngay tại số 46 đường Bạch Đằng, cạnh dòng sông Hàn thơ mộng, Thư viện Khoa học Tổng hợp Đà Nẵng là địa điểm hết sức lý tưởng cho việc đọc sách, nghiên cứu của mọi người dân thành phố.

Xuất bản thông tin

Navigation Menu

Navigation Menu

LIÊN KẾT WEBSITE

Navigation Menu

Navigation Menu

Navigation Menu