Trương Chí Cương (1919 - 1975)

Trương Chí Cương sinh năm 1919 tại xã Duy Châu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam trong một gia đình thợ thủ công. Năm 1936, gia nhập Đoàn Thanh niên Dân chủ. Năm 1939, bị bắt kết án tù một năm, giam ở nhà lao Hội An. Ra tù, tiếp tục hoạt động, được bầu vào Phủ ủy Duy Xuyên. Năm 1942, làm Bí thư Phủ ủy Tam Kỳ. Tháng 6-1942, bị địch bắt, kết án tù, đày lên Buôn Ma Thuột.

Sau cuộc Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), ông thoát khỏi nhà lao, được phân công về công tác ở Phú Yên. Cùng với một số đảng viên khác thành lập Tỉnh ủy lâm thời, được cử làm Trưởng ban khởi nghĩa. Cuối 1945, được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên. Đầu năm 1947, Bí thư Tỉnh ủy Bình Thuận, Ủy viên Phân ban Cực Nam Trung Bộ (tức khu VI sau này).

Năm 1950 - 1952, ông là Khu ủy viên Khu ủy V, phụ trách Bí thư Ban cán sự Cực Nam Trung Bộ (gồm 4 tỉnh: Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng). Từ năm 1952 - 1954, Bí thư Ban cán sự miền Tây Quảng Nam.

Sau Hiệp định Genève (7-1954), làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng, Ủy viên Thường vụ Khu ủy V. Tháng 7-1955 đến tháng 10-1959, ra miền Bắc làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất Trung ương. Cuối năm 1959, ông trở lại chiến trường miền Nam, được bổ sung vào Thường vụ Khu ủy V. Tháng 1-1960, trong Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng bên bờ sông A Vương, ông được Khu ủy V chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy đến giữa năm 1961. Tháng 5-1961, được bầu làm Ủy viên  dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Phó bí thư Khu ủy V, Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng Trung Trung Bộ.

Trước cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), ông được Thường vụ Khu ủy V chỉ định làm Bí thư Đặc khu ủy Quảng Đà. Tháng 11-1971, Chính ủy Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên. Trong khi chuẩn bị trở lại chiến trường tham gia Tổng công kích và nổi dậy mùa xuân 1975, thì ông ngã bệnh, rồi mất đột ngột vào tháng 3-1975 tại Hà Nội.

Ghi nhận những đóng góp của ông, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã quyết định đặt tên một con đường mang tên Trương Chí Cương dài 290m, rộng 8m, từ đoạn gần cuối đường 2 Tháng 9, phường Hòa Cường, quận Hải Châu.

Cổng TTĐT thành phố
 

Danh nhân

Chưa có bình luận ý kiến bài viết!

Nguyễn Văn Thoại (1761 - 1829)

Ông quê làng Bắc Mỹ An, huyện Diên Phước, trấn Quảng Nam, nay là phường Bắc Mỹ An, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Tên thật là Nguyễn Văn Thụy, do kỵ húy mà đổi là Thoại. Thời niên thiếu, Nguyễn Văn Thoại cùng gia đình di cư vào Nam đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), sống tại làng Thới Bình, trên cù lao Dài, nay thuộc huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Niên biểu Phan Châu Trinh (1872-1924)

Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)

Cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc nhỏ tên là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Minh Viên, sinh tháng 10/1876 (Tự Đức 19) tại làng Thạnh Bình, tông Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, (nay là Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng trong một gia đình nông hào, gốc Nho học.

Một vài mẩu chuyện về cụ Huỳnh Thúc Kháng

Giới thiệu Danh nhân Quảng Nam Đà Nẵng

Từ năm 1306 là năm hai châu Ô và Lý (trong đó có một phần đất Quảng Nam ngày nay) được nhập vào bản đồ Đại Việt, Quảng Nam – Đà Nẵng bắt đầu giữ vị trí quan trọng trong tiến trình lịch sử của dân tộc.

Xuất bản thông tin

Navigation Menu

Navigation Menu

LIÊN KẾT WEBSITE

Navigation Menu

Navigation Menu

Navigation Menu