Phạm Tứ (1917 - 1987)
Năm 1942, bị địch bắt giam, kết án 2 năm tù, giam ở nhà lao Quảng Nam.
Sau Cách mạng Tháng 8-1945, được cử làm Chủ nhiệm Việt Minh tổng Thanh Quít, lần lượt được bầu vào Huyện ủy Điện Bàn; Phó bí thư Huyện ủy Tam Kỳ; Bí thư Huyện ủy Điện Bàn; Bí thư Huyện ủy Đại Lộc; Bí thư Huyện ủy Thăng Bình.
Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (3-1952), ông được bầu vào Tỉnh ủy, làm Bí thư Nông hội tỉnh, rồi Trưởng ty Công an tỉnh đến Hiệp định Genève (20-7-1954). Ông được phân công ở lại miền Nam, làm Phó bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng. Trong những ngày phong trào cách mạng bị địch đánh phá khốc liệt, cơ sở phần lớn bị tan vỡ, phong trào cách mạng lâm vào cảnh vô cùng khó khăn, song Phạm Tứ đã kiên cường bám đất, bám dân, từng bước gây dựng lại phong trào. Nhiều lúc ông phải sống trong hầm bí mật, ngâm mình nơi bàu nước, ngủ ở nơi cồn mả, miếu hoang, vừa đói khát, vừa ốm đau, để móc nối, xây dựng lại cơ sở cách mạng. Có thời gian sức khỏe ông giảm sút, thiếu cơm phải đào khoai sống để ăn, nhằn những bông lúa non vừa ngậm sữa ở ngoài đồng để lấy sức. Răng ông cái rụng, cái lung lay, không nhai nổi khoai sống, người cán bộ bảo vệ ông là Đặng Công Quyện phải nhai nát rồi mớm cho ông để có sức vượt qua cơn đói. Chính ông Phạm Tứ với vai trò là Phó bí thư Tỉnh ủy, đã trực tiếp xây dựng lại cơ sở Đảng ở các huyện Điện Bàn, Đại Lộc, Hòa Vang, Tiên Phước.
Năm 1958, ông Phạm Tứ ở trong phái đoàn của Khu ủy V do ông Võ Toàn (Võ Chí Công) và Trần Lương (Trần Nam Trung) phụ trách vượt Trường Sơn ra Bắc báo cáo tình hình và góp ý xây dựng Nghị quyết 15 của Trung ương về việc phát triển phong trào cách mạng ở miền Nam. Sau một thời gian chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, trước khi trở về Nam, ông đã đề nghị với Ban Tổ chức Trung ương xin một số cán bộ thành lập bộ khung chi viện cho chiến trường. Nhiều người trong số này về sau trở thành tướng lĩnh, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, bí thư, chủ tịch tỉnh…
Từ đầu năm 1961 đến cuối 1963, ông được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng. Khi có chủ trương của Khu ủy V chia tách thành hai đơn vị, thì ông được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam. Sau đó, ông được bổ sung vào Khu ủy V, phụ trách Trưởng ban Kiểm tra Đảng, trực tiếp chỉ đạo chiến dịch giải phóng đồng bằng hai tỉnh Nam – Ngãi.
Đầu năm 1965, trong khi đi kiểm tra kết quả trận đánh địch, ông không may vướng mìn, bị thương cụt một chân. Sau ngày đất nước thống nhất, ông về sống tại thành phố Đà Nẵng và mất ngày 23-5-1987.
Nhân kỷ niệm 10 ngày mất của ông (2007), Nhà nước đã truy tặng ông danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Như vậy, ông Phạm Tứ là người Bí thư Tỉnh ủy thứ hai được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân(1).
Ghi nhận những đóng góp của ông, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã quyết định đặt tên một con đường mang tên Phạm Tứ.
(1) Người đầu tiên là bà Nguyễn Thị Định, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre thời chống Mỹ.
Cổng TTĐT thành phố
Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)
Cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc nhỏ tên là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Minh Viên, sinh tháng 10/1876 (Tự Đức 19) tại làng Thạnh Bình, tông Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, (nay là Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng trong một gia đình nông hào, gốc Nho học.
Một vài mẩu chuyện về cụ Huỳnh Thúc Kháng
Nguyễn Văn Thoại (1761 - 1829)
Ông quê làng Bắc Mỹ An, huyện Diên Phước, trấn Quảng Nam, nay là phường Bắc Mỹ An, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Tên thật là Nguyễn Văn Thụy, do kỵ húy mà đổi là Thoại. Thời niên thiếu, Nguyễn Văn Thoại cùng gia đình di cư vào Nam đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), sống tại làng Thới Bình, trên cù lao Dài, nay thuộc huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Niên biểu Phan Châu Trinh (1872-1924)
Ông Ích Khiêm (1831-1884)
Hiệu là Mạc Chi, sinh năm Tân Mão (1831) ở làng Phong Lệ, nay là xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Năm 16 tuổi, đỗ cử nhân thứ 14 trong 116 vị tân khoa (1847), được bổ làm việc ở nội các, rồi chuyển làm Tri huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương). Là người tài kiêm văn võ, từng làm đến Tiễu phủ sứ, nên dân địa phương thường gọi ông là "ông Tiểu Phong Lệ" và được phong tước hiệu Kiên dũng nam. Tính khí khái, cương trực, ghét thói xu phụ nên nhiều lần bị giáng chức, rồi được phục hội, lại bị giáng, lại phục hội,…
Phan Châu Trinh (1872 - 1926)
Phan Châu Trinh cùng với Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp phát động phong trào Duy Tân ở Quảng Nam với 3 mục tiêu: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.
Nguyễn Tri Phương (1800 - 1873)
Tên thật là Nguyễn Văn Chương, quê làng Đường Long, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, còn tên Nguyễn Tri Phương do vua Tự Đức cải tên (1850), hàm ý nói về con người nghĩa dũng, nhiều mưu chước. Từ đó, Nguyễn Tri Phương trở thành tên chính của ông. Xuất thân trong một gia đình nông dân, không được qua trường lớp, nhưng nhờ trí thông minh và ý chí tự học, tự lập cao, đã làm nên sự nghiệp lớn. Bắt đầu từ chân thơ lại ở cấp huyện, do tài năng mà được tiến cử lên triều đình Minh Mạng, được thu dụng và lần lượt giữ nhiều chức vụ trọng yếu suốt ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức.
Ông Ích Đường (1890-1908)
Ông sinh tại làng Phong Lệ, xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc Phường Hoà Thọ, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng).Ông là cháu nội danh tướng Ông Ích Khiêm. Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, thì Ông Ích Đường là người giỏi văn võ, có chí lớn, có tính phóng khoáng, có đức độ bậc trượng phu, thường binh vực kẻ nghèo yếu, chống lại bọn cường hào ác bá.
Hoàng Diệu (1828 - 1882)
Hoàng Diệu là một vị quan nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, người đã quyết tử bảo vệ thành Hà Nội khi Pháp tấn công năm 1882.Hoàng Diệu còn có tên là Hoàng Kim Tích, tự là Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai, sinh ngày 10-2-1828, trong gia đình nho học ở làng Xuân Đài, huyện Diên Phước, nay thuộc xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Nổi tiếng thơ văn từ năm 16 tuổi. Năm 20 tuổi đỗ cử nhân (1848), 26 tuổi đỗ phó bảng (1853); được bổ Tri huyện Tuy Phước, thăng Tri phủ Tuy Viễn (cùng trong tỉnh Bình Định).
Nguyễn Duy Hiệu (1847 - 1887)
Nguyễn Duy Hiệu hiệu là Hữu Thành, sinh năm Đinh Mùi (1847) ở làng Thanh Hà, huyện Diên Phước, nay là xã Cẩm Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Thuở bé thông minh, học giỏi. Đỗ tú tài năm 16 tuổi, đỗ cử nhân năm 29 tuổi, 3 năm sau đỗ phó bảng, cùng khoa với Nguyễn Đôn Tiết (Thanh Hóa), Trần Đình Phong (Nghệ An).


Chưa có bình luận ý kiến bài viết!