Hoàng Dư Khương (1911 - 1983)
Bộ Chính trị, Trung ương Đảng đã quyết định tặng thưởng ông Hoàng Dư Khương Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Hồ Chí Minh để ghi nhận quá trình cống hiến và công lao đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của ông.
Ông tên thật là Hoàng Xang, sinh ngày 2-2-1911, tại làng Bình Thái, xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang, nay thuộc Quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Sau khi đỗ thành chung, ông thi vào trường Bá công Huế (1933-1935). Năm 1936, tham gia phong trào Đông Dương đại hội. Năm 1937, vào Sài Gòn, hoạt động trong công nhân cao su ở đồn điền Dầu Tiếng, rồi làm công nhân hỏa xa ở Tháp Chàm (Bình Thuận). Gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1943 và hoạt động trong giới công nhân, lao động ở Sài Gòn – Chợ Lớn.
Tháng 8-1945, tham gia lãnh đạo giành chính quyền ở Sài Gòn, được cử vào Xứ ủy lâm thời Nam Bộ, phụ trách Kỳ bộ Việt Minh Nam Bộ. Năm 1948-1949, Bí thư Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, rồi Chính ủy Bộ tư lệnh khu IX. Năm 1950, được cử làm Phó bí thư Liên khu miền Đông Nam Bộ cho đến ngày đình chiến (7-1954). Sau Hiệp định Genève, ông được phân công ở lại hoạt động tại miền Nam, Ủy viên thường vụ Xứ ủy Nam Bộ.
Năm 1957, địch đánh phá khốc liệt, cơ sở nội thành bị vỡ, nhiều cán bộ bị địch bắt, trong số đó có ông. Bọn địch biết rõ Hoàng Dư Khương là cán bộ lãnh đạo cao cấp ở miền Nam, nên đã tìm mọi cách để chiêu dụ, mời ông “hợp tác”, nhưng không thành. Chúng chuyển qua dùng đủ cực hình tra tấn dã man nhằm khuất phục ông, nhưng cuối cùng đành bất lực trước ý chí kiên cường của người cách mạng.
Bị đày ra Côn Đảo, ông đã cùng với các đồng chí kiên trung chống chủ trương “ly khai” của địch. Bất chấp mọi cực hình, đàn áp dã man, chịu đựng mọi đói khát, hành hạ của kẻ địch, ông bị giam ở Chuồng Cọp nhiều năm, hai chân bại liệt không đi lại được.
Sau Hiệp định Paris (1973), ở Côn Đảo nổi lên cuộc đấu tranh đòi thả tù chính trị. Để che giấu tội ác, chúng lựa chọn một số tù già yếu, bệnh tật, tàn phế đưa về đất liền, rồi tìm cách “phóng thích” chứ không trao trả chính thức như điều đã thỏa thuận trong hiệp định. Trong số này có Hoàng Dư Khương. Chúng đưa ông về sân bay Biên Hòa, thay vì đến sân bay Lộc Ninh (địa điểm trao trả), rồi giữ tại nhà giam Bình Dương, báo cho thân nhân đến nhận. Biết tin này, Khu ủy Sài Gòn – Gia Định đã bố trí cơ sở tìm cách liên lạc đón ông trốn thoát, đưa về căn cứ. Lúc này, hai chân ông bị liệt, sức khỏe suy kiệt. Đảng và Nhà nước đã tận tình chăm sóc, đưa ra Hà Nội tiếp tục điều trị, nhưng không thể nào hồi phục được.
Do hậu quả của sự tra tấn và những năm tháng tù đày khắc nghiệt, sức khỏe ông suy giảm nghiêm trọng, mặc dù các bác sĩ đã tận tình chữa trị, ông đã trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện Thống Nhất (thành phố Hồ Chí Minh) ngày 13-12-1983.
Ghi nhận những đóng góp của ông, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã quyết định đặt tên một con đường mang tên Hoàng Dư Khương rộng 7,5m và một ngôi trường tiểu học mang tên ông tại Quận Cẩm Lệ.
Cổng TTĐT thành phố
Nguyễn Văn Thoại (1761 - 1829)
Ông quê làng Bắc Mỹ An, huyện Diên Phước, trấn Quảng Nam, nay là phường Bắc Mỹ An, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Tên thật là Nguyễn Văn Thụy, do kỵ húy mà đổi là Thoại. Thời niên thiếu, Nguyễn Văn Thoại cùng gia đình di cư vào Nam đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), sống tại làng Thới Bình, trên cù lao Dài, nay thuộc huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Niên biểu Phan Châu Trinh (1872-1924)
Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)
Cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc nhỏ tên là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Minh Viên, sinh tháng 10/1876 (Tự Đức 19) tại làng Thạnh Bình, tông Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, (nay là Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng trong một gia đình nông hào, gốc Nho học.
Một vài mẩu chuyện về cụ Huỳnh Thúc Kháng
Giới thiệu Danh nhân Quảng Nam Đà Nẵng
Từ năm 1306 là năm hai châu Ô và Lý (trong đó có một phần đất Quảng Nam ngày nay) được nhập vào bản đồ Đại Việt, Quảng Nam – Đà Nẵng bắt đầu giữ vị trí quan trọng trong tiến trình lịch sử của dân tộc.


Chưa có bình luận ý kiến bài viết!