Lê Đình Lý (1790 - 1858)

Lê Đình Lý là danh tướng nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Ông là vị tướng đầu tiên của triều đại này đã tử trận trong công cuộc chiến đấu chống quân Pháp xâm lược nước ta vào năm 1858.

Lê Đình Lý sinh năm 1790 tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Thuở nhỏ, nhà nghèo, giỏi võ, thường tỏ ra dũng cảm. Gia nhập quân đội triều Nguyễn năm Minh Mạng thứ 10 (1829), đánh dẹp giặc Man ở 2 trấn Định Biên và An Giang được thăng cai đội. Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) được phong hàm lãnh binh, thưởng cho quân công một cấp và kim tiền, thẻ bài bằng vàng. Năm 1845, được bổ Lãnh binh An Giang. Hai năm sau, do có công đánh dẹp Trấn Tây (vùng biên giới An Giang và Campuchia), ông được phong Đề đốc, tước Thắng công nam. Vua Thiệu Trị cho ghi công, khắc tên vào súng đồng “Thần uy phục viễn”, vị trí thứ năm.

Năm 1852 (Tự Đức năm thứ 5) được phong Thống chế, rồi nhận lãnh Tổng đốc Định Tường. Năm 1858 (Tự Đức năm thứ 10), thăng thự Đô thống phủ chưởng phụ sự. Ngày 1-9-1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Đà Nẵng. Trên cương vị Tổng thống quân vụ đại thần, ông đã trực tiếp chỉ huy cuộc kháng chiến chống Pháp đầu tiên của quân dân Đà Nẵng. Ông bị trọng thương trong trận kịch chiến ở Cẩm Lệ và sau đó qua đời. Lê Đình Lý là vị tướng của quân triều đình nhà Nguyễn đầu tiên hy sinh tại mặt trận Đà Nẵng. Thống chế Chu Phước Minh được cử lên thay, tiếp tục chỉ huy việc chiến đấu chống quân xâm lược.

Sau đó, triều đình đã điều tướng Nguyễn Tri Phương từ Gia Định ra làm Tổng thống quân thứ Quảng Nam để tiếp tục chỉ huy cuộc chiến đấu chống Pháp ở mặt trận Đà Nẵng (1858 - 1860).

Sách Đại Nam liệt truyện chính biên chép về tang lễ của ông: “Đến khi chết được hậu cấp cho gấm vóc, bạc tiền và vua làm câu đối, văn tế ban cho; sai tỉnh thần sửa lễ tới tế điện, một tấm trung hồn, để thơm tờ điệp xưa, thực là đặc cách hơn cả mọi người”.

Ghi nhận những đóng góp của ông, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã quyết định đặt tên một con đường mang tên Lê Đình Lý dài 550m, rộng 8m, bắt đầu từ đường Nguyễn Văn Linh và đường Hàm Nghi chạy về phía Nam, đến giáp đường Nguyễn Tri Phương.

Cổng TTĐT thành phố
 

Danh nhân

Chưa có bình luận ý kiến bài viết!

Nguyễn Văn Thoại (1761 - 1829)

Ông quê làng Bắc Mỹ An, huyện Diên Phước, trấn Quảng Nam, nay là phường Bắc Mỹ An, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Tên thật là Nguyễn Văn Thụy, do kỵ húy mà đổi là Thoại. Thời niên thiếu, Nguyễn Văn Thoại cùng gia đình di cư vào Nam đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), sống tại làng Thới Bình, trên cù lao Dài, nay thuộc huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Niên biểu Phan Châu Trinh (1872-1924)

Phan Châu Trinh (1872 - 1926)

Phan Châu Trinh cùng với Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp phát động phong trào Duy Tân ở Quảng Nam với 3 mục tiêu: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.

Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)

Cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc nhỏ tên là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Minh Viên, sinh tháng 10/1876 (Tự Đức 19) tại làng Thạnh Bình, tông Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, (nay là Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng trong một gia đình nông hào, gốc Nho học.

Ông Ích Khiêm (1831-1884)

Hiệu là Mạc Chi, sinh năm Tân Mão (1831) ở làng Phong Lệ, nay là xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Năm 16 tuổi, đỗ cử nhân thứ 14 trong 116 vị tân khoa (1847), được bổ làm việc ở nội các, rồi chuyển làm Tri huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương). Là người tài kiêm văn võ, từng làm đến Tiễu phủ sứ, nên dân địa phương thường gọi ông là "ông Tiểu Phong Lệ" và được phong tước hiệu Kiên dũng nam. Tính khí khái, cương trực, ghét thói xu phụ nên nhiều lần bị giáng chức, rồi được phục hội, lại bị giáng, lại phục hội,…

Nguyễn Tri Phương (1800 - 1873)

Tên thật là Nguyễn Văn Chương, quê làng Đường Long, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, còn tên Nguyễn Tri Phương do vua Tự Đức cải tên (1850), hàm ý nói về con người nghĩa dũng, nhiều mưu chước. Từ đó, Nguyễn Tri Phương trở thành tên chính của ông. Xuất thân trong một gia đình nông dân, không được qua trường lớp, nhưng nhờ trí thông minh và ý chí tự học, tự lập cao, đã làm nên sự nghiệp lớn. Bắt đầu từ chân thơ lại ở cấp huyện, do tài năng mà được tiến cử lên triều đình Minh Mạng, được thu dụng và lần lượt giữ nhiều chức vụ trọng yếu suốt ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức.

Ông Ích Đường (1890-1908)

Ông sinh tại làng Phong Lệ, xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc Phường Hoà Thọ, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng).Ông là cháu nội danh tướng Ông Ích Khiêm. Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, thì Ông Ích Đường là người giỏi văn võ, có chí lớn, có tính phóng khoáng, có đức độ bậc trượng phu, thường binh vực kẻ nghèo yếu, chống lại bọn cường hào ác bá.

Một vài mẩu chuyện về cụ Huỳnh Thúc Kháng

Hoàng Dư Khương (1911 - 1983)

Ông Hoàng Dư Khương là một cán bộ cách mạng cương trực, giàu nghị lực, kiên định, có nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu, trong gầy dựng phong trào cách mạng.

Nguyễn Duy Hiệu (1847 - 1887)

Nguyễn Duy Hiệu hiệu là Hữu Thành, sinh năm Đinh Mùi (1847) ở làng Thanh Hà, huyện Diên Phước, nay là xã Cẩm Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Thuở bé thông minh, học giỏi. Đỗ tú tài năm 16 tuổi, đỗ cử nhân năm 29 tuổi, 3 năm sau đỗ phó bảng, cùng khoa với Nguyễn Đôn Tiết (Thanh Hóa), Trần Đình Phong (Nghệ An).

Xuất bản thông tin

Navigation Menu

Navigation Menu