Lê Văn Hiến
Cùng với Nguyễn Sơn Trà, Thái Thị Bôi mở hiệu sách Việt Quảng tại Đà Nẵng, xuất bản một số sách tiến bộ. Tác phẩm Ngục Kon Tum của ông xuất bản vào năm 1938. Đây là tác phẩm văn học tố cáo chính sách tàn bạo của nhà tù đế quốc được xuất bản công khai sớm nhất ở nước ta. Sau khi sách phát hành, bị chính quyền ra lệnh tịch thu và cấm lưu hành, nhưng sách đã được bán hết.
Nhà văn Đặng Thai Mai đã dịch sang Pháp văn, đăng trên báo Le Travail (Lao động) cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Đông Dương phát hành công khai. Năm 1939, ông bị địch bắt, kết án tù lần thứ hai cho đến sau cuộc đảo chính Nhật (9-3-1945) mới được trả tự do về Đà Nẵng, ông được Nhật mời tham gia chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim, nhưng ông đã tìm cách từ chối.
Ngày 16-8-1945, ông được cử làm Trưởng ban khởi nghĩa ở Đà Nẵng, rồi làm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời thành phố Đà Nẵng. Ông là đại biểu Quốc hội Quảng Nam khóa đầu tiên. Từ năm 1945 – 1976, ông đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng của Nhà nước: Bộ trưởng Bộ Lao động, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Vương quốc Lào. Từ năm 1977 về hưu, đến 1994, là chủ nhiệm Câu lạc bộ Thăng Long. Ông mất tại Hà Nội vào năm 1998.
Tác phẩm: Ngục Kon Tum (1938), Bạc tín phiếu (trong kháng chiến chống Pháp ở Liên khu V), Nhật ký của một Bộ trưởng (1996).
Ghi nhận những đóng góp của ông, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã quyết định đặt tên một con đường mang tên Lê Văn Hiến dài 4.900m, rộng 8m, từ ngã ba Ngô Quyền – Hồ Xuân Hương đến Cầu Biện, phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn.
Cổng TTĐT thành phố
Nguyễn Văn Thoại (1761 - 1829)
Ông quê làng Bắc Mỹ An, huyện Diên Phước, trấn Quảng Nam, nay là phường Bắc Mỹ An, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Tên thật là Nguyễn Văn Thụy, do kỵ húy mà đổi là Thoại. Thời niên thiếu, Nguyễn Văn Thoại cùng gia đình di cư vào Nam đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), sống tại làng Thới Bình, trên cù lao Dài, nay thuộc huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Niên biểu Phan Châu Trinh (1872-1924)
Phan Châu Trinh (1872 - 1926)
Phan Châu Trinh cùng với Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp phát động phong trào Duy Tân ở Quảng Nam với 3 mục tiêu: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.
Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)
Cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc nhỏ tên là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Minh Viên, sinh tháng 10/1876 (Tự Đức 19) tại làng Thạnh Bình, tông Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, (nay là Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng trong một gia đình nông hào, gốc Nho học.
Nguyễn Tri Phương (1800 - 1873)
Tên thật là Nguyễn Văn Chương, quê làng Đường Long, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, còn tên Nguyễn Tri Phương do vua Tự Đức cải tên (1850), hàm ý nói về con người nghĩa dũng, nhiều mưu chước. Từ đó, Nguyễn Tri Phương trở thành tên chính của ông. Xuất thân trong một gia đình nông dân, không được qua trường lớp, nhưng nhờ trí thông minh và ý chí tự học, tự lập cao, đã làm nên sự nghiệp lớn. Bắt đầu từ chân thơ lại ở cấp huyện, do tài năng mà được tiến cử lên triều đình Minh Mạng, được thu dụng và lần lượt giữ nhiều chức vụ trọng yếu suốt ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức.


Chưa có bình luận ý kiến bài viết!