Phan Thành Tài (1878 - 1916)
Thuở nhỏ, học chữ nho, rồi quốc ngữ và chữ Pháp tại Đà Nẵng. Năm 1899, được bổ làm thông ngôn ở dinh Tổng đốc Bình Phú (Bình Định - Phú Yên), rồi làm thông phán ở Bác cổ học viện Nam Kỳ ở Sài Gòn, nhưng chỉ một thời gian ngắn lại bỏ về quê.
Những năm 1902 - 1908, ông tham gia tích cực phong trào Duy tân, làm hiệu trưởng, đồng thời là giáo viên dạy quốc ngữ và Pháp ngữ ở Nghĩa thục Diên Phong, tại làng Phong Thử, một trong những nghĩa thục lớn của Quảng Nam lúc bấy giờ. Khi thực dân Pháp khủng bố những yếu nhân của phong trào Duy tân, ông may mắn thoát khỏi.
Ông là lớp người tiên phong của tổ chức Việt Nam Quang phục hội ở Trung Kỳ và trở thành yếu nhân của cuộc khởi nghĩa dưới danh nghĩa vua Duy Tân (1916) do Trần Cao Vân, Thái Phiên lãnh đạo.
Theo kế hoạch, cuộc khởi nghĩa sẽ phát động vào 1 giờ sáng ngày 3-5-1916 tại trung tâm điểm là Huế. Ở Quảng Nam, thì do Phan Thành Tài và Đỗ Tự; ở Quảng Ngãi do Lê Ngung lãnh đạo.
Sắp đến ngày hành động thì công việc bị lộ. Thực dân Pháp đã thẳng ta đàn áp. Vua Duy Tân bị bắt cùng với Thái Phiên, Trần Cao Vân ngày 6-5-1916. Nhà vua bị giam, sau đó bị đày sang đảo Réunion (châu Phi), còn hai ông Thái Phiên và Trần Cao Vân thì bị chém ở pháp trường An Hòa (gần Huế).
Phan Thành Tài bỏ trốn lên miền núi Quảng Nam, được một người dân tộc Cơ tu là U They cưu mang, che giấu; một thời gian sau đó, bị Pháp bắt đưa về xử chém tại nơi bến sông cạnh chợ Vĩnh Điện ngày 9-6-1916.
Phan Thành Tài có để lại một số bài thơ trong đó có bài Di ngôn được sáng tác trước khi bị chém, gồm 8 câu:
Con còn bụng mẹ, cha đã chết
Con bước ra đời nước đã suy.
Thù nhà, nhục nước con nên biết
Chẳng đội trời chung – chữ ấy ghi.
Cha muốn gầy ra đóa tự do
Máu đem làm nước, xác làm tro,
Vun cho hoa nở, hoa chưa nở.
Con hãy vì cha thế mặt lo.
Ghi nhận những đóng góp của ông, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã quyết định đặt tên một con đường mang tên Phan Thành Tài dài 270m, rộng 4m, nối đường 2 Tháng 9 đến ngã ba đường Trưng Nữ Vương – đường Núi Thành, quận Hải Châu.
Cổng TTĐT thành phố
Nguyễn Văn Thoại (1761 - 1829)
Ông quê làng Bắc Mỹ An, huyện Diên Phước, trấn Quảng Nam, nay là phường Bắc Mỹ An, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Tên thật là Nguyễn Văn Thụy, do kỵ húy mà đổi là Thoại. Thời niên thiếu, Nguyễn Văn Thoại cùng gia đình di cư vào Nam đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), sống tại làng Thới Bình, trên cù lao Dài, nay thuộc huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Niên biểu Phan Châu Trinh (1872-1924)
Phan Châu Trinh (1872 - 1926)
Phan Châu Trinh cùng với Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp phát động phong trào Duy Tân ở Quảng Nam với 3 mục tiêu: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.
Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)
Cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc nhỏ tên là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Minh Viên, sinh tháng 10/1876 (Tự Đức 19) tại làng Thạnh Bình, tông Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, (nay là Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng trong một gia đình nông hào, gốc Nho học.
Hoàng Dư Khương (1911 - 1983)
Ông Hoàng Dư Khương là một cán bộ cách mạng cương trực, giàu nghị lực, kiên định, có nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu, trong gầy dựng phong trào cách mạng.


Chưa có bình luận ý kiến bài viết!