Tống Phước Phổ (1900 – 1991)

Tống Phước Phổ sinh tại làng An Quán, nay thuộc xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong một gia đình nhà Nho, có truyền thống yêu nước. Năm 1927, gia nhập VNTNCMĐCH, bị địch truy lùng phải chạy vào Sài Gòn, làm báo và viết tuồng, cùng ở chung nhà với Phan Bôi. Hôm Phan Bôi diễn thuyết ngay cạnh sân bóng đá Sài Gòn (chiều ngày 8/2/1931), ông cùng với Lý Tự Trọng có mặt để bảo vệ. Phan Bôi và Lý Tự Trọng bị bắt, ông thoát được, trở về lại Quảng Nam. Năm 1940, cùng với nghệ nhân Nguyễn Lai và Ngô Thị Liễu thành lập gánh hát Tân Thành vừa đi trình diễn các nơi, vừa đào tạo lớp diễn viên trẻ cho ngành tuồng.

Sau CMT8-1945, Tống Phước Phổ là nghệ sĩ tuồng đầu tiên cõng ba lô đi theo kháng chiến. Ông cùng với Võ Bá Huân vận động thành lập đoàn tuồng, đi biểu diễn để tuyên truyền cách mạng. Đây là tiền thân của Đoàn tuồng Liên khu V (cũ), nay là Nhà hát tuồng Đào Tấn (Bình Định). Tống Phước Phổ là tác giả chuyên nghiệp đầu tiên của sân khấu tuồng cách mạng, góp phần quan trọng trong việc phục hồi nghệ thuật tuồng ở Liên khu V. Có thể nói, trong đội ngũ sáng tác văn học tuồng từ trước tới nay, chưa có ai gắn bó nhiều năm với sân khấu tuồng và viết được nhiều vở như Tống Phước Phổ.

Trong suốt 60 năm trong nghề, Tống Phước Phổ đã đóng góp cho ngành sân khấu tuồng ngót một trăm kịch bản, kể cả chuyển thể từ tiểu thuyết, hay từ truyện Trung Quốc. Còn riêng kịch bản tuồng cách mạng, tính từ sau 1945, đã có trên 20 vở. Ông được tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân và Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu tiên. Ông mất ngày 21/7/1991.

Ghi nhận những đóng góp của ông, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã quyết định đặt tên một con đường mang tên Tống Phước Phổ dài 800m, rộng 5m, nằm song song với đường 2 tháng 9 và đường Núi Thành về phía Nam giáp với đường nhỏ khu dân cư bên phải Đài tưởng niệm.

Cổng TTĐT thành phố
 

Danh nhân

Chưa có bình luận ý kiến bài viết!

Nguyễn Văn Thoại (1761 - 1829)

Ông quê làng Bắc Mỹ An, huyện Diên Phước, trấn Quảng Nam, nay là phường Bắc Mỹ An, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Tên thật là Nguyễn Văn Thụy, do kỵ húy mà đổi là Thoại. Thời niên thiếu, Nguyễn Văn Thoại cùng gia đình di cư vào Nam đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), sống tại làng Thới Bình, trên cù lao Dài, nay thuộc huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Niên biểu Phan Châu Trinh (1872-1924)

Phan Châu Trinh (1872 - 1926)

Phan Châu Trinh cùng với Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp phát động phong trào Duy Tân ở Quảng Nam với 3 mục tiêu: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.

Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)

Cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc nhỏ tên là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Minh Viên, sinh tháng 10/1876 (Tự Đức 19) tại làng Thạnh Bình, tông Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, (nay là Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng trong một gia đình nông hào, gốc Nho học.

Ông Ích Khiêm (1831-1884)

Hiệu là Mạc Chi, sinh năm Tân Mão (1831) ở làng Phong Lệ, nay là xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Năm 16 tuổi, đỗ cử nhân thứ 14 trong 116 vị tân khoa (1847), được bổ làm việc ở nội các, rồi chuyển làm Tri huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương). Là người tài kiêm văn võ, từng làm đến Tiễu phủ sứ, nên dân địa phương thường gọi ông là "ông Tiểu Phong Lệ" và được phong tước hiệu Kiên dũng nam. Tính khí khái, cương trực, ghét thói xu phụ nên nhiều lần bị giáng chức, rồi được phục hội, lại bị giáng, lại phục hội,…

Nguyễn Tri Phương (1800 - 1873)

Tên thật là Nguyễn Văn Chương, quê làng Đường Long, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, còn tên Nguyễn Tri Phương do vua Tự Đức cải tên (1850), hàm ý nói về con người nghĩa dũng, nhiều mưu chước. Từ đó, Nguyễn Tri Phương trở thành tên chính của ông. Xuất thân trong một gia đình nông dân, không được qua trường lớp, nhưng nhờ trí thông minh và ý chí tự học, tự lập cao, đã làm nên sự nghiệp lớn. Bắt đầu từ chân thơ lại ở cấp huyện, do tài năng mà được tiến cử lên triều đình Minh Mạng, được thu dụng và lần lượt giữ nhiều chức vụ trọng yếu suốt ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức.

Ông Ích Đường (1890-1908)

Ông sinh tại làng Phong Lệ, xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc Phường Hoà Thọ, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng).Ông là cháu nội danh tướng Ông Ích Khiêm. Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, thì Ông Ích Đường là người giỏi văn võ, có chí lớn, có tính phóng khoáng, có đức độ bậc trượng phu, thường binh vực kẻ nghèo yếu, chống lại bọn cường hào ác bá.

Một vài mẩu chuyện về cụ Huỳnh Thúc Kháng

Hoàng Dư Khương (1911 - 1983)

Ông Hoàng Dư Khương là một cán bộ cách mạng cương trực, giàu nghị lực, kiên định, có nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu, trong gầy dựng phong trào cách mạng.

Nguyễn Duy Hiệu (1847 - 1887)

Nguyễn Duy Hiệu hiệu là Hữu Thành, sinh năm Đinh Mùi (1847) ở làng Thanh Hà, huyện Diên Phước, nay là xã Cẩm Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Thuở bé thông minh, học giỏi. Đỗ tú tài năm 16 tuổi, đỗ cử nhân năm 29 tuổi, 3 năm sau đỗ phó bảng, cùng khoa với Nguyễn Đôn Tiết (Thanh Hóa), Trần Đình Phong (Nghệ An).

Xuất bản thông tin

Navigation Menu

Navigation Menu