Châu Thượng Văn (1856 - 1908)
Đối với ông, Việt Nam đã là Tổ quốc thiêng liêng. Làng Minh Hương, phố Hội An, nơi ông chào đời và lớn lên, là quê hương yêu dấu. Đất nước và quê hương này đã nuôi nấng và hình thành nhân cách của ông. Ông sống, chiến đấu và nếu cần thì hy sinh cả tài sản, tính mạng để bảo vệ nó. Tinh thần yêu nước thiết tha ấy của Châu Thượng Văn đã biểu lộ trong bài " Ngục trung thư".
Ông Tôn Quang Phiệt dịch bài thơ ấy như sau:
Trong tù hòa lệ viết thư,
Thênh thang trước gió giận chưa nguôi lòng.
Lụy thân vì kiếp anh hùng,
Việc không vũ trụ chết cùng uổng thôi
Cường quyền che cả mặt trời,
Trong lò cá thịt là nòi giống ta.
Muôn tay những ước mọc ra,
Múa gươm lùa sạch loài ma trên đời.
Nhà buôn giữa chợ Hội An của Châu Thượng Văn từng là nơi cụ Trần Quý Cáp đến trao đổi, do đó, trước kia chính cụ Trần Quý Cáp cũng là người tiếp giao chặt chẽ với Tiểu la Nguyễn Thành. Thân mật là thế nhưng cụ Châu Thơ Đồng thì lại khắng khít với Duy Tân Hội và phong trào Đông Du.
Ngày cụ Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu lãnh đạo phong trào Nghĩa hội Quảng Nam, Châu Thượng Văn là một thành viên trung kiên đóng góp công của khá lớn cho phong trào. Nhà cụ ở giữa chợ Hội An, là nơi thường tiếp nhiều nhân vật yêu nước Quảng Nam, Huế tới lui, trao đổi chuyện quốc sự. Gia đình cụ chuyên việc buôn bán nên khách thương vào ra là chuyện thường, nên dễ qua mắt bọn mật thám cũng như bọn chó săn của Nam triều bù nhìn. Hành động của cụ kín đáo, vì thế sau khi Nghĩa Hội tan rã, cụ không bị chúng khó dễ trong sinh hoạt hằng ngày.
Để chuẩn bị cho việc Đông Du của 3 nhân vật Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ, Đặng Tử Kính, tổn phí đúng 3000 đồng, một phần là do các đảng viên góp còn lại là do Tiểu la Nguyễn Thành trù cấp. “ Còn ông Châu Thơ Đồng tự ý tặng cho tôi ba trăm đồng” ( Phan Bội Châu toàn tập, Nxb Thuận Hóa, 1990). Ba trăm đồng của Châu Thơ Đồng hồi ấy là rất lớn, phải bán bao nhiêu ruộng hoặc đoạn mãi ngôi nhà giữa phố Hội mới có được, đủ biết sự hy sinh gia sản của Châu quân đối với tổ chức yêu nước nầy thiết tha đến chừng nào.
Cũng từ đó, ngôi nhà của ông ở ngay giữa phố Hội An trở thành nơi tiếp đón các đồng chí, các nhân sĩ Nam Bắc, mỗi lần ghé lại xứ Quảng. Nhà ông còn là hộp thư bí mật liên lạc với bên ngoài của hội Duy Tân. Thư từ ở bên ngoài bí mật gởi về cho Tiểu La đều qua tay ông chuyển đạt. Đầu thế kỷ, qua các tàu buôn Trung Quốc, các loại sách mới đã "cập bến" Hội An. Có lẽ con đường liên lạc này cũng khá quan trọng đối với phong trào Đông Du và vì thế Hội An trở thành một cứ điểm quan trọng cho cả hai phong trào yêu nước lúc bấy gìờ. Cứ xem khí thế của phong trào chống sưu thế (1908) ở Hội An thì đủ rõ.
Bọn thực dân và tay sai khiếp sợ trước tinh thần đứng dậy của nhân dân. Chúng bắt ông, buột tội ông là âm mưu phiến loạn. Ông bị giam ở nhà lao Hội An rồi sau đó chuyển về nhà lao tỉnh (Điện Bàn). Trước mặt bọn thực dân và tay sai, ông khẳng khái thừa nhận: "Người nước Nam sang Nhật Bản và hạt dân xin thuế, chính tôi là người chủ mưu, khoảng ai dám dự vào cả.".
Ông đã có chủ định riêng nên ngay từ hôm vào ngục, Châu Thượng Văn bắt đầu tuyệt thực, mỗi ngày chỉ uống mấy chén nước trà loãng do người nhà mang vào.
Tòa án tỉnh của Nam triều kết án ông tù chung thân, đày đi Lao Bảọ chúng đưa ông trở lại lao Hội An để chờ đáp tàu lửa đi Đà Nẵng. Ông đã gặp lại Huỳnh Thúc Kháng ở đó. Trong “Thi tù tùng thoại”, Huỳnh Thúc Kháng có kể lần gặp gỡ bi thương ấy cùng chủ định của ông: Tòa Nam án kết án Châu quân chung thân đày Lao Bảo. Kể từ khi Châu quân bị bắt đến thành án, trên hai mươi ngày, một hột cơm không vào trong miệng, mỗi ngày chỉ uống vài chén nước trà loãng do người con đem vào thôi.
Nghe Châu quân nhịn ăn lâu ngày, tôi định không thể sống dược (Châu quân đã giải lên tỉnh mà tôi cùng Tiểu La tiên sinh còn giam ở ngục Faifoo). Bỗng một ngày nọ, 11 giờ, cánh cửa phòng giam tôi được mở toang. có mấy người lính tập dẫn năm sáu người tù vào, cùng giam vào phòng tội Hỏi thì họ nói bị đày đi Lao Bảo, gửi giam tạm buổi mai, đợi chiều lên xe lửa. (Lúc ấy đường Faifoo-Tourane có đoạn đường xe hỏa đi phía núi Ngũ Hành).
Sau lính ra, cửa khóa lại, tôi nhìn thấy người bên kia mặt đen như than, tay chưn (chân) như ống quyển, hai mắt nhắm khít, không còn là hình dạng người, hơi thở như sợi tơ, chừng như lâu mới nhận ra, thì không phải người nào lạ mà chính Châu Thơ Đồng tiên sinh! Mà ốm o gần chết vì đã tuyệt thực trên 20 ngày nay
Tôi gọi thử:
-Châu tiên sinh! Châu tiên sinh! Còn nhìn biết tôi là ai không?
Khi ấy Châu quân mở hai mắt nhìn tôi một chốc lâu rồi nói nho nhỏ trong cổ:
-Minh viên quân, tôi làm cái dễ, còn anh em gắng gánh lấy sự khó.
Nói rồi nhắm mắt lại như cây khô vậy. Hai giờ chiều bữa ấy, Châu quân bị bồng lên võng chở re hỏa xa cùng đi với bọn tù kịa. Đến Huế thì Châu quân chết trong lao Phủ Thừa. Bấy giờ vào khoảng cuối tháng 3 năm Mậu Thân (tháng 4 năm 1908)”.
Kiên cường bất khuất, sẵn sàng dâng hiến cả tài sản và tính mệnh cho sự nghiệp cứu nước, chỉ ước mong sớm đuổi được giặc ra khỏi đất nước, để đồng bào khỏi bị đọa đày đau khổ, đó là nhân cách cao đẹp mà Châu Thượng Văn, người con của Hội An, đã nêu gương cho các thế hệ sau và góp phần làm nên truyền thống lịch sử của nhân dân Quảng Nam-Đa Nẵng.
Ghi nhận những đóng góp của ông, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã quyết định đặt tên một con đường mang tên Châu Thượng Văn dài 300m, rộng 5m, từ Khu tập thể Hòa Cường (đường Tiểu La) qua đường Lê Bá Trinh, song song với đường Núi Thành đến cuối phía đông nam Khu tập thể Hòa Cường.
Cổng TTĐT thành phố
Nguyễn Văn Thoại (1761 - 1829)
Ông quê làng Bắc Mỹ An, huyện Diên Phước, trấn Quảng Nam, nay là phường Bắc Mỹ An, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Tên thật là Nguyễn Văn Thụy, do kỵ húy mà đổi là Thoại. Thời niên thiếu, Nguyễn Văn Thoại cùng gia đình di cư vào Nam đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), sống tại làng Thới Bình, trên cù lao Dài, nay thuộc huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Niên biểu Phan Châu Trinh (1872-1924)
Phan Châu Trinh (1872 - 1926)
Phan Châu Trinh cùng với Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp phát động phong trào Duy Tân ở Quảng Nam với 3 mục tiêu: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.
Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)
Cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc nhỏ tên là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Minh Viên, sinh tháng 10/1876 (Tự Đức 19) tại làng Thạnh Bình, tông Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, (nay là Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng trong một gia đình nông hào, gốc Nho học.
Hoàng Dư Khương (1911 - 1983)
Ông Hoàng Dư Khương là một cán bộ cách mạng cương trực, giàu nghị lực, kiên định, có nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu, trong gầy dựng phong trào cách mạng.


Chưa có bình luận ý kiến bài viết!