Đỗ Đăng Tuyển (1856 - 1911)
Năm 1882, ông đang làm Quản hiệu Sơn Phòng thì gặp lúc giặc Pháp xâm lược nước nhà. Tại Quảng Nam, các nghĩa dân, nghĩa sĩ nổi lên chống Pháp và Triều đình Nguyễn đầu hàng, ông cáo bịnh về nghỉ.
Trước cao trào Cần Vương và Văn Thân, năm 1885, Cụ Đỗ đã nhiệt tình ủng hộ và chính thức gia nhập phong trào Nghĩa Hội do Tiến sĩ Trần Văn Dư là sáng lập viên cùng các nhà khoa bảng trong tỉnh như Tiến sĩ Phạm Như Xương, cữ nhân Phan Bá Phiến, Tiểu La Nguyễn Thành ở Thăng Bình, Trần Đỉnh ( Tán Thừa ), Nguyễn Hanh, Ông Ích Thiện..vv.. Sơn Phòng Sứ, Trần Văn Dư, có trọng trách bình trị miền Thượng du Quảng Nam đã chiêu mộ các quan chức dưới quyền và nhân dân trong tỉnh biến đổi các khu sơn phòng Quế Sơn, Trà My, Dương Yên, A Bá, An Lâm thành căn cứ địa, chiến khu cho Nghĩa Quân Tân Tỉnh.
Năm 1886, sau trận tập kích của quân Pháp và quân triều đình do Nguyễn Thân chỉ huy đánh vào Tân Tỉnh (Trung Lộc), tiếp đến tấn công vào An Lâm, Phước Sơn, lực lượng Nghĩa hội bị tổn thất nặng nề. Khí giới, lương thực, sổ sách, giấy tờ gần như bị mất sạch. Thế cùng, lực kiệt, Phan Bá Phiến và Nguyễn Duy Hiệu đã chọn lấy cái chết bất khuất để bảo toàn lực lượng còn lại.
Tuân thủ di huấn cuối cùng của người lãnh đạo Nghĩa hội là tạm thời phân tán lực lượng, ông trở về quê sống thu mình và giấu chí, chờ thời cơ mới. Nguyễn Thành, bạn chiến đấu của ông thì về làng cũ, lập trại Nam Thạnh (Thăng Bình), bề ngoài tỏ ra an phận làm ruộng nuôi mẹ già, còn Đỗ Đăng Tuyển trở về nhà, làm như kẻ chẳng còn bận tâm gì đến thời cuộc, hằng ngày mượn chén rượu, ngâm nga thơ phú để tìm quên lãng. Bọn lý hương ở làng theo dõi hành vi của ông, cảm thấy yên tâm rằng vị tán tương ngày nào đã trở thành một “lão túy ông” (ông lão say).
Trong cuộc họp lịch sử thành lập hội Duy Tân vào thượng tuần tháng 4 năm Giáp Thìn (1904) tại Nam Thạnh sơn trang với khoảng 20 đại biểu tham dự, trong đó có 5 người được Phan Bội Châu sau này nhắc đến trong cuốn Tự phán, đó là Nguyễn Thành, Đỗ Đăng Tuyển, Lê Võ, Đặng Tử Kính và Đặng Thái Thân.
Năm 1908, phong trào Duy Tân và Đông du bị thực dân Pháp đàn áp, chúng bắt lưu đày và tàn sát nhiều nhà lãnh đạo, ông trốn thoát, mãi đến năm 1910 chúng mới bắt được ông. Khi chúng giải ông đến tỉnh Quảng Nam, giữa đường ông uống thuốc độc tự tử, nhưng thuốc không chuyển, khi đến bờ sông thuộc làng Thanh Hà (gần thị xã Hội An) ông nhảy xuống sông tự trầm, nhưng ông vẫn bị bọn lính vớt lên. Về đến Hội An, ông bị chúng tra tấn cực hình, nhưng ông không tiết lộ một chi tiết nào. Thế rồi ông bị giam, đến tháng 11 năm 1910, chúng giải ông đi bộ ra Nghệ An để đối chất với các đồng chí hoạt động ngoài ấy. Tháng 3 năm 1911, ông bị kết án đày Lao Bảo.
Từ Nghệ An chúng đưa ông đi Lao Bảo, khi đến Quảng Trị chúng tạm giam ông tại nhà lao Quảng Trị. Từ nhà lao Quảng Trị phải đi bộ lên Lao Bảo, ông đã tuyệt thực trên đường đi đến chết. Tới nơi ông mất nhằm ngày 4-4-1911.
Phan Bội Châu khi viết lịch sử Tiểu La Nguyễn Thành có bài văn tế khóc Tiểu La và bài thơ khóc Đỗ Đăng Tuyển.
“Đau đời nên phải nhớ tiên sinh,
Ûu quốc xưa nay bậc lão thành.
Tay trắng đỡ liều vai gánh nặng,
Lòng son đưa trước bọn đầu xanh.
Bội Châu không bác e vô sự,
Lao Bảo nhờ ông mới có danh.
Tiếc Bác lấy gì an ủi Bác,
Một chung rượu lạt máu thần minh.”
Ghi nhận những đóng góp của ông, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã quyết định đặt tên một con đường mang tên Đỗ Đăng Tuyển giao nhau với đường Tôn Thất Thuyết và Hà Tông Quyền thuộc địa bàn Quận Cẩm Lệ và một ngôi trường THCS mang tên ông, ngôi trường được xây dựng tại khu tái định cư Thanh Khê 6 – Hòa Minh mở rộng, gồm 3 tầng, với diện tích 12.850m2.
Cổng TTĐT thành phố
Nguyễn Văn Thoại (1761 - 1829)
Ông quê làng Bắc Mỹ An, huyện Diên Phước, trấn Quảng Nam, nay là phường Bắc Mỹ An, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Tên thật là Nguyễn Văn Thụy, do kỵ húy mà đổi là Thoại. Thời niên thiếu, Nguyễn Văn Thoại cùng gia đình di cư vào Nam đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), sống tại làng Thới Bình, trên cù lao Dài, nay thuộc huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Niên biểu Phan Châu Trinh (1872-1924)
Phan Châu Trinh (1872 - 1926)
Phan Châu Trinh cùng với Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp phát động phong trào Duy Tân ở Quảng Nam với 3 mục tiêu: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.
Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)
Cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc nhỏ tên là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Minh Viên, sinh tháng 10/1876 (Tự Đức 19) tại làng Thạnh Bình, tông Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, (nay là Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng trong một gia đình nông hào, gốc Nho học.
Hoàng Dư Khương (1911 - 1983)
Ông Hoàng Dư Khương là một cán bộ cách mạng cương trực, giàu nghị lực, kiên định, có nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu, trong gầy dựng phong trào cách mạng.


Chưa có bình luận ý kiến bài viết!